Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Tổng quan lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Dự án đầu tư xây dựng công trình Trong vài thập niên trở lại đây, công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nước ta trong thời gian tới.
Dự án đầu tư Đầu tư là quá trình bỏ vốn để tạo nên cũng như để vận hành một loại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư, mà ở đây những tài sản đầu tư này có thể sinh lợi dần hoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai (thường gọi là vòng đời dự án đầu tư) (Nguyễn Văn Chọn, 2006). Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm/dịch vụ nào đó trong một thời gian xác định (Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng, 2012). Theo Đỗ Đình Đức và Bùi Mạnh Hùng (2012), một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau: (1) Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức: (i) mục tiêu phát triển và (ii) mục tiêu trước mắt. Mục tiêu phát triển là những lợi ích kinh tế xã hội do thực hiện dự án đem lại và mục tiêu trước mắt là các mục đích cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án.
Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 6 (2) Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án. (3) Các hoạt động: Mỗi dự án đều có những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một kế hoạch thực hiện và phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
(4) Các nguồn lực: Nguồn lực để thực hiện dự án chính là các yếu tố vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án. Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Căn cứ theo Luật Đầu tư, dự án đầu tư có thể được hiểu theo hai cách như sau: Xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Xét về mặt quản lý, thông qua dự án đầu tư nhà đầu tư có thể quản lý về việc sử dụng vốn, vật tư, trang thiết bị,… nhằm đem lại kết quả tốt về tài chính và kinh tế trong thời gian dài. Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 7 1. Dự án đầu tư xây dựng Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 quy định: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm/dịch vụ trong một thời gian nhất định.
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở”. Phân loại dự án đầu tư xây dựng - Phân loại theo quy mô và tính chất của dự án đầu tư xây dựng công trình. Căn cứ vào tính chất và quy mô, dự án đầu tư xây dựng công trình được phân thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C. - Phân loại theo nguồn vốn đầu tư + Dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước + Dự án sử dụng nguồn vốn nhà nước ngoài ngân sách + Dự án sử dụng vốn khác - Theo các bước lập dự án + Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất).
+ Dự án đầu tư xây dựng công trình cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật và lập dự án đầu tư xây dựng. - Quy trình của dự án đầu tư xây dựng được thể hiện qua các giai đoạn sau: Giai đoạn I: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn II: Giai đoạn thực hiện đầu tư. Giai đoạn III: Giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 8 Dù ¸n b¸o c¸o nghiÖm thu ®Çu t- thiÕt kÕ ®Êu thÇu thi c«ng ®Çu t- bµn giao x©y dùng giai ®o¹n i giai ®o¹n ii giai ®o¹n iii qu¶n lý dù ¸n Hình 1.1: Quy trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng * Giai đoạn I: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư có vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của các giai đoạn sau. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, sự chính xác của các kết quả nghiên cứu, việc tính toán lập dự toán là quan trọng nhất. Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5% đến 15% vốn đầu tư.
Thực hiện tốt các công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả kinh tế (đúng tiến độ, tránh phá đi làm lại, tránh các chi phí không cần thiết), tạo điều kiện cho quá trình hoạt động của dự án được thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi. Tất cả các công trình dự định đầu tư đều phải trải qua giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Quản lý giai đoạn chuẩn bị đầu tư xây dựng cần chú trọng các công việc: tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả tiền khả thi (nếu có); lập thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng. Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư của cấp có thẩm quyển.
* Giai đoạn II: Giai đoạn thực hiện đầu tư Quản lý giai đoạn thực hiện đầu tư xây dựng là giai đoạn chính và tối quan trọng của dự án đầu tư xây dựng. Ở giai đoạn này cần chú trọng đến các công việc sau: thực hiện giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với các công trình yêu cầu có giấy phép xây dựng; tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây Luận văn thạc sỹ Quản lý Kinh tế 9 dựng công trình; giám sát thi công xây dựng. Trong giai đoạn này chi phí phải bỏ ra chiếm từ 85% đến 99% vốn đầu tư và ứ đọng suốt trong những năm thực hiện đầu tư. Do đó, việc rút ngắn thời gian là vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm hạn chế những thiệt hại như việc ứ đọng vốn, hư hỏng vật liệu do thời tiết hoặc thi công dở dang.
Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý thực hiện đầu tư và quản lý thực hiện các hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến kết quả của quá trình thực hiện đầu tư. Giai đoạn thực hiện đầu tư giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình đầu tư nhằm vật chất hóa vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế. *Giai đoạn III: Giai đoạn kết thúc đầu tư, đưa dự án vào khai thác sử dụng Sau khi dự án đã được xây dựng, giai đoạn này chú trọng đến các công việc: nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; thanh toán khối lượng hoàn thành bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng và vận hành, chạy thử, quyết toán hợp đồng xây dựng và bảo hành công trình. Cả 3 giai đoạn của quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng đều đóng vai trò quan trọng trọng việc quản lý có hiệu quả công trình xây dựng, các giai đoạn này đều có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Trong quá trình quản lý đầu tư xây dựng chủ đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng và quyết định đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư và xây dựng. Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước Dự án đầu tư xây dựng khu vực công là các dự án do Nhà nước đầu tư từ nguồn vốn NSNN và luôn chiếm tỷ trọng cao trong ngành xây dựng. Sự thành công hay thất bại của loại dự án này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến xã hội về nhiều mặt.