Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án tại Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình quận 12. Chương 2: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản lý đầu tư xây dựng công trình quận 12. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG 1.
Dự án đầu tƣ xây dựng 1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng Theo Luật Xây dựng đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 năm 2014 thông qua thì: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định”.[16] Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO 9000:2001 và theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000:2000 thì: “Dự án là quá trình đơn nhất gồm một tập hợp các hoạt động phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”.[2] Trên góc độ quản lý, người ta có thể xem: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”. Các định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính nổi bật của dự án. Thứ nhất dự án có tính nỗ lực tạm thời, có nghĩa mọi dự án đều có thời hạn, tức là có điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định.
Thứ hai, sản phẩm hoặc dịch vụ là duy nhất, có nghĩa là mỗi dự án đều có một sản phẩm và dịch vụ duy nhất khác biệt với các dự án khác. Như vậy chúng ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của dự án như sau: Dự án có mục đích, kết quả xác định rõ: kết quả đó có thể là một công trình, một dịch vụ nhất định. Mỗi dự án khác nhau có thể có nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhiệm vụ lại có một kết quả độc lập, do đó một dự án có thể có 4 nhiều kết quả độc lập khác nhau, kết hợp hình thành nên kết quả chung của dự án. Việc quản lý các hoạt động này có đòi hỏi dự án phải được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện nhưng quản lý chung phải thống nhất để đạt được các mục tiêu chung mà dự án cần đạt được.
- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn: Một dự án bao giờ cũng có một quá trình hình thành, phát triển và kết thúc. Khi dự án kết thúc, kết quả của dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý, vận hành, sau đó nhóm quản lý dự án giải tán. - Sản phẩm của dự án mang đơn chiếc, độc đáo và duy nhất: mỗi dự án được điều phối bởi một đội ngũ cán bộ khác nhau, tại một thời điểm, một không gian, thời gian khác nhau, một yêu cầu khác nhau về kết quả thực hiện. Do đó, khác với quá trình sản xuất, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao.
- Dự án nào cũng có sự liên quan của nhiều bên, có sự tương tác giữa các bộ phận quản lý chức năng và QLDA, giữa Chủ đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu, nhà điều hành và các cơ quan quản lý nhà nước. Các bộ phận này có chức năng và sự tham gia vào dự án khác nhau nhưng phải thường xuyên có quan hệ với nhau để cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ để đạt mục tiêu chung của dự án đặt ra. - Môi trường hoạt động của dự án là “va chạm”. Các dự án cùng chia nhau nguồn lực tham khan hiếm của tổ chức.
Các dự án cạnh tranh lẫn nhau và trong nhiều trường hợp khi hình thành tổ chức dự án các cán bộ tham gia dự án có thể được điều động từ các tổ chức khác nhau, họ vừa chịu sự điều hành của dự án chung vừa chịu ảnh hưởng của tổ chức ban đầu. Do đó môi trường hoạt động của dự án có nhiều sự phức tạp nhưng cũng đầy năng động. - Tính bất định và độ rủi ro cao: Các dự án đòi hỏi quy mô nguồn lực lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định nhưng thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. Đặc điểm, vai trò và yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng [12] 1.
Đặc điểm, vai trò của dự án đầu tư xây dựng Về đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng: - Dự án có mục tiêu, kết quả xác định. - Dự án có chu kỳ phát triển và có thời gian tồn tại hữu hạn. - Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo. - Dự án liên quan đến nhiều đối tượng: Chủ đầu tư, đơn vị thiết kế, đơn vị thi công, nhà cung ứng… - Dự án đầu tư xây dựng luôn bị hạn chế bởi các nguồn lực: Tiền vốn, nhân lực, công nghệ kỹ thuật, vật tư thiết bị, thời gian thực hiện.
- Dự án đầu tư xây dựng có tính rủi ro cao. Về vai trò của dự án đầu tư xây dựng: - Dự án đầu tư xây dựng là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án. - Dự án đầu tư xây dựng à căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công trình 1. Yêu cầu của dự án đầu tư xây dựng Theo Điều 51 của Luật Xây dựng năm 2014, dự án đầu tư xây dựng không phân biệt các loại nguồn vốn sử dụng phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng.
- Có phương án công nghệ và phương án thiết kế xây dựng phù hợp. 6 - Bảo đảm chất lượng, an toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. - Bảo đảm cấp đủ vốn đúng tiến độ của dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng 1.
Khái niệm quản lý dự án đầu tư xây dựng Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là quá trình lập kế hoạch, điều phổi thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm ba giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt những mục tiêu xác định. Lập kế hoạch: Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống.
Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp. Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cùng với hoạt động giám sát, công tác 7 đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của dự án.
Quản lý thời gian và tiến độ dự án đầu tư xây dựng công trình Quản lý thời gian và tiến độ dự án là quá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng công việc, xác định thời gian thực hiện từng công việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiến trình thực hiện các công việc dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép và những yêu cầu về mặt chất lượng đã định. Mục đích của quản lý thời gian là làm sao để dự án hoàn thành đúng thời gian trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu đã định chất lượng. Thời gian của dự án được ấn định trong tiến độ của dự án đầu tư được duyệt, trong tiến độ này phải làm rõ: - Danh mục đầu việc, kèm theo khối lượng công việc và quỹ thời gian thực hiện công việc đó; - Thứ tự và tiến trình thực hiện từng đầu việc; - Tổng thời gian dự án và các mốc thời gian phải hoàn thành để bàn giao theo giai đoạn xây dựng, theo hạng mục hoàn chỉnh hoặc theo dây chuyền sản xuất để đưa vào sử dụng trước từng phần. Ở giai đoạn lập dự án xây dựng, việc ấn định thời gian phụ thuộc vào: - Phân tích hiệu quả dự án đầu tư liên quan đến yếu tố thời gian; - Điều kiện về vốn và phương thức rót vốn cho dự án của Chủ đầu tư; - Yêu cầu về mốc bàn giao công việc ở từng giai đoạn thi công, từng hạng mục công trình, hoặc từng dây chuyền sản xuất; - Tổng thời gian thực hiện dự án.
Ở giai đoạn thực hiện đầu tư, tiến độ phụ thuộc vào: 8 - Điều kiện về cung cấp vốn của Chủ đầu tư; - Các mốc thời gian trọng yếu của tiến độ; - Năng lực chuyên môn kỹ thuật, năng lực tổ chức và quản lý sản xuất của nhà thầu xây lắp; - Các yếu tố tác động khác. Do vậy cần có tổng tiến độ chi tiết cho dự án.