CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG KHU CÔNG NGHIỆP BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận chung 1. Khái niệ m, vai trò củ a cơ sở hạ tầ ng Khu công nghiệ p 1. Khái niệm về Khu công nghiệp Năm 1991 khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam ra đời.
Từ đó, song hành với tốc độ gia tăng đầu tư nước ngoài, hàng loạt khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế đã ra đời. Theo định nghĩa tại Nghị định 28/2018/NĐ-CP ngày 22/5/1018, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập trên cơ sở quy hoạch phát triển do Chính phủ quyết định. Các nhà đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao được hưởng những ưu đãi riêng. Khái niệm cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng còn được gọi là kết cấu hạ tầng, công trình hạ tầng, là hệ thống các công trình xây dựng làm nền tảng cho mọi hoạt động của đô thị, công nghiệp.
Cơ sở hạ tầng KCN bao gồm hai hệ thống: hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN bao gồm hệ thống các công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát nước, xử lý các chất thải và các công trình khác. Hệ thống hạ tầng xã hội ngoài hàng rào KCN bao gồm các công trình y tế, nhà ở, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước, thương nghiệp dịch vụ và các công trình khác. Sự hình thành các KCN làm cho mật độ dân cư tại các khu công nghiệp gia tăng nhanh chóng, nên nhu cầu về sinh hoạt và văn hoá cũng phải gia tăng.
Vì vậy, thu hút lao động và phát triển hạ tầng xã hội phục vụ KCN là hai công việc phải được tiến hành song song và có vai trò quan trọng trong việc phát triển KCN. Vai trò cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Cơ sở hạ tầng quyết định sự tăng trưởng và phát triển nhanh các ngành sản xuất, các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và dịch vụ trong khu vực KCN. Sở dĩ, như vậy là vì hạ tầng sẽ cung cấp các dịch vụ, các yếu tố đầu vào, đầu ra, đảm bảo cho quy trình sản xuất tiến hành một cách thường xuyên, liên tục với quy mô ngày càng mở rộng. Đây là yếu tố cơ bản để KCN có cơ hội phát triển trong quá trình hội nhập.
Cơ sở hạ tầng sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản trong cơ cấu sản xuất và ngành nghề trong KCN. Với một kết cấu hạ tầng hiện đại là điều kiện cơ bản cho phát triển nhiều ngành nghề có tính chuyên môn hóa cao trong KCN, có thể làm thay đổi cấu trúc nghề đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập. Cơ sở hạ tầng là cơ sở vật chất và điều kiện quan trọng của phát triển KCN. Nếu như xem KCN như một cơ thể con người, thì hệ thống CSHT được ví như các phân hệ hợp thành của cơ thể con người: giao thông và điện lực là hệ thống mạch máu; bưu chính viễn thông là hệ thống thần kinh; cấp, thoát nước là hệ thống tiêu hoá và bài tiết của con người … Những hệ thống này không thể thiếu.
Vì nếu thiếu và yếu một phân hệ nào đó sẽ dẫn đến không cân bằng đối với cơ thể con người. Cũng như vậy, nếu hệ thống CSHT kỹ thuật bị trục trặc sẽ làm cho sản xuất kinh doanh bị đình trệ, thậm chí lâm vào tình trạng rối loạn. Cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cơ bản, cần thiết cho sản xuất, thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN. Cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, những nơi nào có CSHT tốt sẽ dễ hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh và như vậy giúp cho KCN có cơ hội phát triển tốt hơn. Cơ sở hạ tầng tốt giúp thúc đẩy việc giao lưu hàng hóa, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm giữa nơi sản xuất và các địa điểm tiêu thụ. Cơ sở hạ tầng chủ yếu của KCN là dịch vụ, là sản phẩm trung gian (yếu tố đầu vào của sản xuất) phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành đều đặn và liên tục. Ví dụ: Cung cấp năng lượng, nguyên liệu, thông tin, liên lạc,.
cho các hoạt động sản xuất công nghiệp. Vai trò cung cấp đầu vào được thể hiện trước hết bởi các công trình và hệ thống điện, thông tin liên lạc. Cũng như vậy, 7 CSHT còn đảm bảo dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp thông tin thị trường. Chỉ cần trục trặc trong một khâu nhất định hoặc sự hoạt động yếu kém của hệ thống CSHT, sẽ gây sự cố cho hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh của KCN.
Ngược lại, nếu hệ thống CSHT hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có sức cạnh tranh hơn. Sự phát triển của CSHT là một trong những điều kiện quan trọng để hiện đại hoá sản xuất kinh doanh. Cơ sở hạ tầng có vai trò thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại và với xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế thì CSHT bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin (mạng viễn thông, internet…) có vai trò đặc biệt quan trọng.
Sự lạc hậu về CSHT trong lĩnh vực này sẽ dẫn đến chậm trễ, thiếu hụt hoặc ách tắc trong cung cấp, xử lý thông tin. Điều này không chỉ làm tăng chi phí và thời gian giao dịch mà có thể làm mất cơ hội đầu tư, cơ sở kinh doanh của các doanh nghiệp, hoặc làm cho công tác quản lý, điều hành trở nên kém hiệu quả. Trên thế giới hiện nay, những quốc gia phát triển cũng là những nước có hệ thống CSHT phát triển đồng bộ và hiện đại. Trong khi đó, hầu hết các quốc gia đang phát triển đang có hệ thống CSHT kém phát triển.
Sự yếu kém về CSHT tạo ra "nút thắt” trong phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, Việt Nam đã xác định phát triển CSHT là khâu đột phá trong phát triển kinh tế xã hội và cần được ưu tiên với quan điểm "cơ sở hạ tầng đi trước một bước". Trong những năm qua, Chính phủ đã dành một mức đầu tư cao cho phát triển CSHT. Khoảng 9-10% GDP hàng năm đã được đầu tư vào ngành giao thông, năng lượng, viễn thông, nước sạch và vệ sinh môi trường.
Đây là một tỷ lệ đầu tư CSHT vào loại cao so với nhiều nước trên thế giới. Nhiều nghiên cứu kinh tế cũng cho thấy mối liên hệ mạnh mẽ giữa đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng với tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam. Quả n lý nhà nư ớ c về đầ u tư xây dự ng cơ sở hạ tầ ng Khu công nghiệ p 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN.
Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước a) Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước Bộ máy quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp từ ngân sách nhà nước bao gồm các chủ thể với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các chủ thể. Trong việc xây dựng bộ máy quản lý nhà nước, điều quan trọng hơn cả là phải thiết lập một cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy đó. Yếu tố quan trọng nhất trong bộ máy tổ chức là trình độ cán bộ làm công tác quy hoạch, kế hoạch, công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng.
Nếu đội ngũ cán bộ này thật sự có năng lực, phẩm chất tốt thì sẽ tham mưu cho chính quyền đô thị quản lý, điều tiết hiệu quả, hạn chế lãng phí trong quá trình đầu tư xây dựng các công trình kết cấu HTKT đô thị. 9 b) Xây dựng và thực thi chính sách, văn bản pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước Hệ thống các văn bản pháp quy là công cụ chủ yếu của chính quyền địa phương nhằm phối hợp thống nhất các đạo luật mà Nhà nước đã ban hành để vận dụng vào quá trình quản lý kinh tế - xã hội, bên cạnh đó các hoạt động kinh tế-xã hội đều phải dựa vào công cụ của pháp luật và hệ thống các văn bản pháp quy hành chính để tiến hành, tức là mọi hoạt động trên các lĩnh vực, trong đó có quản lý xây dựng cơ sở hạ tầng, đều phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Việc thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng bằng vốn ngân sách nhà nước liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý Ngân sách.