Chương 1: Lý luận chung về công tác quản lý chi bảo hiểm xã hội trên địa bàn cấp huyện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi BHXH của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi BHXH của huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.Khái quát về công tác quản lý chi bảo hiểm xã hội cấp huyện 1. Một số khái niệm 1. Khái niệmbảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và đến nay đã được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới. BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế cũng như khả năng quản lý của quốc gia đó.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về BHXH cụ thể là: Một đạo luật cuối những năm 1950 đã đưa cho Cơ quan Quản lý Lao động Hoa Kỳ về quyền lợi của người lao động trong kế hoạch trợ cấp lần đầu tiên. Đạo luật Tiết lộ và Trợ cấp Phúc lợi (WPPDA) đã chỉ ra rằng nhà tuyển dụng và các tổ chức lao động cung cấp các bản mô tả kế hoạch và báo cáo tài chính cho chính phủ và nhằm mục đích làm cho các nhà tài trợ kế hoạch có trách nhiệm hơn với người tham gia và người thụ hưởng về sức khoẻ tài chính của kế hoạch. Theo từ điển Bách khoa: " BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội" (Hội Đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 2005). Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về 6 kinh tế xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”( Tổ chức lao động Quốc tế, 1952).
Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Theo Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH 13 ngày 20/11/2014: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”(Quốc Hội, 2014). Theo quan niệm của BHXH Việt Nam: BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với NLĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các thân nhân trong gia đình NLĐ, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân NLĐ và gia đình họ, góp phần an toàn xã hội.
Quan niệm trên đây đã phản ánh đầy đủ 2 mặt của BHXH là mặt kinh tế và xã hội, thể hiện bản chất BHXH. Như vậy, theo học viên có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là hệ thống bảo đảm khoản thu nhập thay thế cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia và có sự ủng hộ của NN, nhằm góp phần bảo đảm sự ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Đối tượng của BHXH chính là thu nhập bị biến động giảm hoặc mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm của người lao động tham gia BHXH. Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Chính sách bảo hiểm xã hội đã được thực hiện theo Luật bảo hiểm xã hội. Tham gia bảo hiểm xã hội làm cho người lao động yên tâm 7 cống hiến và không phải lo lắng nhiều về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động sản xuất, công tác, sinh hoạt. Khái niệm chi bảo hiểm xã hội Theo Nguyễn Văn Định: “Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả cho các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH” (Nguyễn Văn Định, 2012) Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2014 “Chi BHXH là quá trình phân phối, sử dụng quỹ BHXH để chi trả cho các chế độ BHXH nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH và đảm bảo các hoạt động của hệ thống BHXH. Là quá trình phân phối các nguồn tài chính đã được tập trung vào quỹ BHXH theo mục đích sử dụng nhất định” (Quốc Hội, 2014).
Chi BHXH được thực hiện bởi hai quá trình: phân phối và sử dụng quỹ BHXH. - Phân phối quỹ BHXH: là quá trình phân bổ các nguồn tài chính từ quỹ BHXH để hình thành các quỹ thành phần: Quỹ ốm đau và thai sản, quỹ TNLĐ và BNN, quỹ hưu trí và tử tuất hoặc phân bổ cho các mục đích sử dụng khác nhau, như: quỹ đầu tư phát triển, quỹ chi trả các chế độ BHXH… - Sử dụng quỹ BHXH: là quá trình chi tiền của quỹ BHXH đến tay đối tượng được thụ hưởng hoặc cho từng mục đích sử dụng cụ thể. Phân phối và sử dụng quỹ BHXH là hai phạm trù khác nhau, nhưng trong thực tế, hai quá trình này thường đan xen lẫn nhau. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trình này theo thứ tự trước sau.
Ví dụ: hoạt động bảo tồn và tăng trưởng quỹ đòi hỏi phải kết thúc quá trình phân phối quỹ, quỹ phải phân phối đủ cho mục đích chi trả các chế độ BHXH, số còn lại mới phân phối vào quỹ bảo tồn tăng trưởng. - Chi bảo hiểm xã hội có các chế độ sau đây: + Chế độ ốm đau: là chế độ trợ cấp bằng tiền nhằm thay thế một phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm, giúp cho người lao động trang trải cho các chi tiêu khi ốm đau phải nghỉ việc mà không được nhận lương. 8 + Chế độ thai sản, nghỉ dưỡng sức: là chế độ trợ cấp bằng tiền nhằm thay thế hoặc bù đắp những khoản thu nhập bị giảm hay bị mất trong các trường hợp người lao động nghỉ việc để đi khám thai, sinh con, nuôi con, thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình, sẩy thai, điều hòa kinh nguyệt, nạo hút thai, thai chết lưu. + Chế độ TNLĐ -BNN: là chế độ trợ cấp bằng tiền một lần hoặc hàng tháng cho đối tượng bị TNLĐ - BNN, nhằm đảm bảo quyền lợi và ổn định cuộc sống cho người lao động khi họ bị TNLĐ - BNN dẫn đến suy giảm khả năng lao động.
+ Chế độ hưu trí: là một chế độ bảo hiểm xã hội nhằm trợ cấp phần thu nhập bị mất cho người lao động khi đã kết thúc quá trình lao động để bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ. + Chế độ tử tuất: là chế độ dành cho thân nhân của người lao động có tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội khi người lao động này chết đi, nhằm giúp cho thân nhân lo liệu mai táng (mai táng phí) và ổn định cuộc sống (trợ cấp tuất). + Các chế độ BHXH một lần: Trợ cấp một lần trong các trường hợp được quy định khi người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động; người hưởng trợ cấp TBLĐ – BNN hàng tháng đã nghỉ việc chết. Trợ cấp mai táng khi người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp 91, công nhân cao su, TNLĐ-BNN hàng tháng đã nghỉ việc chết Cấp phương tiện sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình cho người bị TNLĐ- BNN.
Trợ cấp một lần cho các đối tượng không thuộc đối tượng hưởng lương hưu mà có nhu cầu thanh toán một lần toàn bộ thời gian đã tham gia BHXH. Khái niệm quản lý chi bảo hiểm xã hội “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được những mục tiêu dặt ra trong điều kiện biến động của môi trường” (Nguyễn Ngọc Huyền, 2012). Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý 9 (chịu sự quản lý), đây là quan hệ giữa lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối quan hệ với nhau.
Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng. Theo tác giả, khái niệm quản lý chi BHXH của BHXH cấp huyện: là sự tác động của các chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong các hoạt động lập, xét duyệt dự toán, tổ chức thực hiện, điêu hành và kiểm tra, giám sát hoạt động chi trả các chế độ BHXH nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra theo những nguyên tắc và phương pháp quản lý nhất định. Khi nói tới quản lý chi BHXH là nói đến một loạt các mối quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, cơ quan BHXH, người lao động và người sử dụng lao động.