Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và những biến động kinh tế vĩ mô cho thấy các rủi ro hệ thống trong khu vực ngân hàng nếu không được cảnh báo và ngăn ngừa kịp thời sẽ gây ra hệ lụy nghiêm trọng đối với sự ổn định kinh tế. Tại Việt Nam, hoạt động giám sát an toàn vi mô và vĩ mô đòi hỏi cơ quan quản lý phải sở hữu công cụ nhận diện, phân loại chính xác các tổ chức tín dụng (TCTD) lành mạnh hoặc có nguy cơ yếu kém, từ đó thiết lập các biện pháp can thiệp sớm và bảo vệ người gửi tiền.
Về mặt pháp lý, Khoản 3 Điều 58 Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 đã xác lập nhiệm vụ giám sát ngân hàng bao gồm: phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của TCTD; đồng thời thực hiện xếp hạng các TCTD hằng năm. Để hiện thực hóa quy định này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã từng ban hành Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12/3/2008 quy định xếp loại ngân hàng thương mại cổ phần (Quyết định 06). Đến ngày 31/12/2018, Thông tư số 52/2018/TT-NHNN (Thông tư 52) ra đời nhằm thay thế Quyết định 06, sau đó được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 23/2021/TT-NHNN ngày 31/12/2021 (Thông tư 23) và hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-NHNN ngày 10/01/2022.
Mặc dù Thông tư 52 đã khắc phục nhiều bất cập của văn bản tiền nhiệm, thực tiễn áp dụng cho thấy hệ thống tiêu chí và phương pháp xếp hạng hiện hành vẫn bộc lộ hạn chế trước tốc độ phát triển quy mô tài sản, mức độ phức tạp của các giao dịch tài chính và yêu cầu kiểm soát rủi ro tập trung (như sở hữu chéo, cho vay lĩnh vực bất động sản, hệ sinh thái doanh nghiệp).
Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận xác lập các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và các quy định pháp luật về xếp hạng TCTD, bao gồm hệ thống tiêu chí xếp hạng theo thông lệ quốc tế và bài học kinh nghiệm từ các cơ quan quản lý nước ngoài cũng như các tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập.
- Đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về xếp hạng TCTD tại Việt Nam giai đoạn áp dụng Quyết định 06 và Thông tư 52 (đã sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 23), chỉ ra các kết quả đạt được, hạn chế bất cập và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về xếp hạng TCTD tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu thanh tra, giám sát ngân hàng trong giai đoạn mới.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động xếp hạng TCTD, trọng tâm là hệ thống tiêu chí xếp hạng gồm các chỉ tiêu định lượng, chỉ tiêu định tính, cơ chế xác định trọng số và quy trình chấm điểm. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống tiêu chí xếp hạng của NHNN áp dụng đối với các TCTD tại Việt Nam trong mối tương quan với chuẩn mực quốc tế, phân tích số liệu thực tế giai đoạn 2019-2022 và cập nhật các chỉ đạo điều hành đến đầu năm 2024.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận hoạt động xếp hạng TCTD dưới giác độ quản lý nhà nước, phân biệt rõ với hoạt động xếp hạng tín nhiệm thương mại của các Credit Rating Agency (như Moody’s, Standard & Poor's, Fitch Ratings). Về khung lý thuyết và chuẩn mực áp dụng:
- Khung giám sát CAMELS: Bao gồm 6 thành tố nền tảng là Mức đủ vốn (Capital Adequacy - C), Chất lượng tài sản (Asset quality - A), Quản trị điều hành (Management - M), Kết quả hoạt động kinh doanh/Thu nhập (Earnings - E), Thanh khoản (Liquidity - L) và Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to market risk - S).
- Phương pháp giám sát trên cơ sở rủi ro (Risk-Based Supervision - RBS): Khung phương pháp luận kết hợp định lượng và định tính nhằm dự báo, kiểm soát rủi ro tương lai, phân loại mức độ can thiệp từ bình thường, cảnh báo sớm đến can thiệp nghiêm ngặt.
- Các chuẩn mực an toàn vốn và quản trị rủi ro quốc tế: Khung hiệp ước Basel II, Basel III và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 9.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN; Thông tư 52/2018/TT-NHNN; Thông tư 23/2021/TT-NHNN; Thông tư 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư 22/2019/TT-NHNN; Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ; Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ do ảnh hưởng của dịch bệnh.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp logic, phân tích luật học, so sánh pháp lý và tổng hợp ý kiến chuyên gia quản lý. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê định lượng (tính phân vị, xác định phân bổ chuẩn, độ lệch chuẩn) để phân tích cơ sở xác định ngưỡng tính điểm và phân bổ trọng số của từng chỉ tiêu đối với các nhóm TCTD đồng hạng.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm số liệu báo cáo thống kê chính thức của NHNN, báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thanh tra giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng (TTGSNH) và các tài liệu khảo sát quy mô tài sản toàn hệ thống TCTD tính đến tháng 01/2019 và dữ liệu thực hiện tỷ lệ an toàn vốn đến tháng 6/2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận pháp luật về xếp hạng các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa khái niệm và bản chất của hoạt động xếp hạng TCTD dưới góc độ quản lý nhà nước. Tác giả xác định xếp hạng TCTD là việc cơ quan quản lý thu thập, tổng hợp, phân tích, chấm điểm các chỉ tiêu, tiêu chí về các mặt hoạt động thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm đo lường mức độ rủi ro tổng thể, từ đó kịp thời áp dụng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro gây mất an toàn hệ thống.
Khóa luận phân tích các chủ thể tham gia quan hệ xếp hạng, bao gồm:
- Cơ quan quản lý nhà nước: Thực hiện xếp hạng nhằm mục đích công quyền, làm cơ sở cấp phép, thanh tra, tái cơ cấu và quyết định biện pháp can thiệp sớm.
- Các TCTD được xếp hạng: Là chủ thể chịu tác động trực tiếp, kết quả xếp hạng phản ánh vị thế, mức độ an toàn vốn và ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn, mở rộng mạng lưới.
- Tổ chức xếp hạng độc lập: Cung cấp ý kiến đánh giá độc lập về rủi ro tín dụng cho nhà đầu tư thị trường vốn (phân tích mô hình xác suất vỡ nợ P/D của S&P, mức tổn thất dự báo LE của Moody’s, và mô hình kết hợp của Fitch Ratings).
Về kinh nghiệm quốc tế, tác giả nghiên cứu thực tiễn tại:
- Hoa Kỳ: Quá trình phát triển từ hệ thống CAMEL (năm 1979) sang CAMELS (năm 1996), mô hình SCOR của FDIC thay thế CAEL, và các mô hình kinh tế lượng SR-SABR của Fed sử dụng hồi quy logistic để dự báo xác suất hạ bậc hoặc thiếu hụt vốn.
- Nhật Bản: Hệ thống Xếp hạng giám sát tài chính của Cơ quan Dịch vụ tài chính Nhật Bản (FSA) ban hành năm 2007, gồm 10 hạng mục quản trị và rủi ro, phân loại thành 4 mức (A, B, C, D) gắn với các biện pháp quản lý chọn lọc.
- Hàn Quốc: NHTW Hàn Quốc (BOK) và Cơ quan Giám sát dịch vụ tài chính (FSS) phân loại đối tượng áp dụng các mô hình linh hoạt: CAMEL-R cho NHTM trong nước, ROCA cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài và chi nhánh hải ngoại, CACREL cho ngân hàng chuyên doanh, và CAEL cho công ty tài chính.
Từ kinh nghiệm quốc tế, tác giả rút ra 5 bài học cho Việt Nam: (1) Nhận thức xếp hạng là cấu phần trọng yếu của giám sát ngân hàng; (2) CAMELS là phương pháp định lượng hóa hiệu quả, phù hợp với các thị trường đang phát triển; (3) Phân định rõ mục đích xếp hạng quản lý nhà nước và xếp hạng thương mại; (4) Kết hợp hài hòa giữa chỉ tiêu định lượng tài chính và chỉ tiêu định tính về tuân thủ pháp luật, kiểm soát nội bộ; (5) Thường xuyên cập nhật ngưỡng và tiêu chí theo mức độ phát triển thị trường.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xếp hạng các tổ chức tín dụng ở Việt Nam
Chương 2 tập trung mổ xẻ khung pháp lý điều chỉnh hoạt động xếp hạng TCTD tại Việt Nam qua hai giai đoạn văn bản: Quyết định 06 và Thông tư 52 (được sửa đổi bởi Thông tư 23).
Về chủ thể, Thông tư 52 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh ra toàn bộ các khối TCTD (ngoài NHTM cổ phần còn có ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và chi nhánh ngân hàng nước ngoài). Văn bản loại trừ 3 nhóm không thực hiện xếp hạng: TCTD đang trong tình trạng kiểm soát đặc biệt (KSĐB); TCTD đang làm thủ tục giải thể hoặc thu hồi giấy phép; TCTD có thời gian hoạt động chưa đủ 24 tháng. Tác giả dẫn chứng số liệu thống kê tháng 01/2019: tổng tài sản toàn hệ thống đạt trên 11,1 triệu tỷ đồng, trong đó khối NHTM Nhà nước chiếm 43,8%, khối NHTM cổ phần chiếm 41,2%, khối ngân hàng nước ngoài chiếm 10,4%, khối TCTD phi ngân hàng chiếm 1,5%, và Ngân hàng Hợp tác xã chiếm 0,3%.
Về phương pháp và tiêu chí xếp hạng, tác giả so sánh sự chuyển biến căn bản giữa hai thời kỳ:
| Tiêu chí so sánh |
Quyết định số 06/2008/QĐ-NHNN |
Thông tư số 52/2018/TT-NHNN & Thông tư 23/2021/TT-NHNN |
| Khung phương pháp |
Mô hình 5 nhóm CAMEL (chưa có yếu tố S). |
Mô hình 6 nhóm tiêu chí CAMELS (bổ sung Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường - S). |
| Cơ cấu điểm số |
Thang điểm 100: Vốn (35đ), Tài sản (35đ), Quản trị (15đ), Kinh doanh (10đ), Thanh khoản (15đ). Điểm tối thiểu Vốn có thể âm (-3đ). |
Thang điểm 1 đến 5 cho từng chỉ tiêu; chia tách thành nhóm chỉ tiêu định lượng và nhóm chỉ tiêu định tính kèm hệ thống trọng số riêng biệt. |
| Phân loại kết quả |
4 mức: Loại A (>=80đ), B (60-79đ), C (50-59đ), D (<50đ). |
5 hạng: Hạng A (Tốt: >=4,5), Hạng B (Khá: 3,5 - <4,5), Hạng C (Trung bình: 2,5 - <3,5), Hạng D (Yếu: 1,5 - <2,5), Hạng E (Yếu kém: <1,5). |
| Quy trình thực hiện |
TCTD tự chấm điểm, gửi NHNN chi nhánh cho ý kiến, trình Thống đốc phê chuẩn. |
TTGSNH (Cục Giám sát an toàn hệ thống chủ trì, phối hợp Cục I, II, III) và NHNN chi nhánh trực tiếp thu thập dữ liệu và chấm điểm xếp hạng. |
| Công khai kết quả |
Công bố chính thức trên Cổng thông tin điện tử của NHNN. |
Không công bố công khai rộng rãi; kết quả là tài liệu mật phục vụ công tác quản lý, thanh tra, can thiệp của NHNN. |
Điểm mới trọng tâm của Thông tư 23 là việc tái cơ cấu trọng số và điều chỉnh chỉ tiêu nhóm Chất lượng tài sản để thích ứng giai đoạn hậu Covid-19:
- Giảm trọng số đối với tiêu chí "Tỷ lệ nợ xấu, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý và nợ cơ cấu tiềm ẩn thành nợ xấu" từ 45% xuống 40% ở khối NHTM, đồng thời nâng ngưỡng tính điểm nhằm tính toán đến tác động cơ cấu nợ theo Thông tư 01 và Thông tư 03.
- Tăng trọng số chỉ tiêu "Tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng của khách hàng lớn so với tổng dư nợ" từ 20% lên 25% đối với khối NHTM lớn và nhỏ nhằm kiểm soát rủi ro tập trung tín dụng.
- Bổ sung chỉ tiêu "Tỷ lệ dư nợ tín dụng để đầu tư, kinh doanh bất động sản so với tổng dư nợ" thay thế cho chỉ tiêu dự phòng giảm giá đầu tư dài hạn.
Đối với nhóm chỉ tiêu định tính (mức độ tuân thủ pháp luật), Thông tư 23 thiết lập quy trình tính điểm gồm 3 bước:
- Bước 1: Tính điểm ban đầu từ 1 đến 5 dựa trên mức tiền phạt vi phạm hành chính tương quan với quy mô vốn tự có riêng lẻ của từng TCTD.
- Bước 2: Trừ điểm vi phạm lặp lại (tối đa không quá 0,9 điểm): nếu có trên 02 vi phạm, từ lần thứ hai trở đi trừ 0,1 điểm/vi phạm; trường hợp vi phạm do TCTD tự phát hiện, báo cáo nhưng chưa khắc phục xong chỉ bị trừ 0,05 điểm/vi phạm.
- Bước 3: Trừ điểm chế tài: trừ 1 điểm (hoặc hạ về mức tối thiểu 0,1 điểm nếu điểm hiện tại <= 1) nếu TCTD không thực hiện đầy đủ kế hoạch khắc phục các kiến nghị, cảnh báo của NHNN về công tác tổ chức, quản trị, điều hành.
Tác giả đánh giá những thành tựu đạt được: Thông tư 52 và 23 đã xây dựng cơ chế giám sát chủ động từ phía cơ quan quản lý, định lượng hóa các ngưỡng rủi ro, phân loại TCTD theo các nhóm đồng hạng và tích hợp chuẩn an toàn vốn Basel II (Thông tư 41). Tuy nhiên, văn bản vẫn tồn tại các hạn chế: chưa tách biệt nhóm ngân hàng thương mại có quy mô siêu lớn (> 1 triệu tỷ đồng tài sản); biên độ phân hạng A, B, C còn rộng; việc xử lý vi phạm định tính chưa theo kịp tốc độ thanh tra; và thiếu sự tích hợp sâu với phương pháp giám sát rủi ro RBS cũng như các yêu cầu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xếp hạng các tổ chức tín dụng của Việt Nam
Dựa trên việc đối chiếu thực trạng và định hướng điều hành ngành ngân hàng, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp hoàn thiện kỹ thuật lập quy:
- Bổ sung nhóm đồng hạng gồm các NHTM có quy mô tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng tại Thông tư 52: Nhóm ngân hàng này (chủ yếu là các NHTM Nhà nước và NHTM cổ phần quy mô lớn nhất hệ thống) có tầm quan trọng mang tính hệ thống cao, tính chất hoạt động phức tạp, do đó cần áp dụng bộ trọng số và ngưỡng an toàn riêng biệt thay vì xếp chung nhóm với các NHTM có quy mô từ 100 nghìn tỷ đến vài trăm nghìn tỷ đồng.
- Phân hạng chi tiết hơn ở các mức hạng A, B, C: Đề xuất chia nhỏ các bậc xếp hạng chính thành các thang bậc chi tiết hơn (như A+, A, A-; B+, B, B-; C+, C, C-) tương tự thông lệ xếp hạng quốc tế, nhằm tránh tình trạng cào bằng giữa các TCTD có mức độ an toàn chênh lệch nhau nhưng cùng rơi vào một biên độ điểm rộng.
- Hoàn thiện quy định về thời gian và hình thức xác định vi phạm trong nhóm chỉ tiêu định tính: Cần quy định rõ khung thời gian xác lập hành vi vi phạm hành chính tương thích với kỳ đánh giá xếp hạng hằng năm; có cơ chế ghi nhận mức độ nỗ lực khắc phục hậu quả thực tế của TCTD thay vì chỉ căn cứ cứng nhắc vào thời điểm ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Bổ sung các chỉ tiêu đánh giá quản trị, điều hành, kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro quy định tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN: Đưa các yêu cầu về 3 tuyến bảo vệ (quản lý rủi ro kinh doanh, chức năng giám sát rủi ro/tuân thủ, và kiểm toán nội bộ) cùng các chỉ tiêu kiểm tra sức chịu đựng (stress testing) vào cấu phần M (Quản trị) và R (Quản trị rủi ro) của hệ thống chỉ tiêu.
- Bổ sung, kết hợp kết quả đánh giá rủi ro theo phương pháp RBS với hệ thống tiêu chí CAMELS: Từng bước chuyển đổi từ mô hình giám sát tuân thủ thuần túy sang tích hợp mô hình đánh giá rủi ro tương lai (RBS), sử dụng kết quả đánh giá hồ sơ rủi ro nội bộ để điều chỉnh điểm số tổng hợp CAMELS của từng TCTD.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng kết và làm rõ các cứ liệu thực chứng có giá trị pháp lý và thực tiễn trong công tác giám sát hệ thống ngân hàng:
- Hệ thống hóa sự phát triển lập pháp từ Quyết định 06 (áp dụng 5 nhóm CAMEL, cơ chế tự chấm điểm, chỉ bao quát NHTM cổ phần) sang Thông tư 52 và Thông tư 23 (áp dụng 6 nhóm CAMELS, phân định chỉ tiêu định lượng - định tính, bao quát toàn diện các loại hình TCTD và chuyển giao quyền đánh giá trực tiếp cho TTGSNH và NHNN chi nhánh).
- Dẫn chứng số liệu cụ thể về cơ sở xây dựng ngưỡng an toàn vốn: kết quả khảo sát đến cuối tháng 6/2021 cho thấy 75% TCTD áp dụng Thông tư 41 đạt tỷ lệ an toàn vốn từ 9% trở lên (trong đó 25% đạt từ 11% trở lên); 94% TCTD đạt tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 từ 7% trở lên (trong đó 70% đạt từ 8,2% trở lên). Đây là bằng chứng thực nghiệm giải thích tính hợp lý của việc quy định ngưỡng điểm 3/5 và 5/5 tại Thông tư 23.
- Phân tích cơ sở số liệu quy mô tài sản tính đến tháng 01/2019 (toàn hệ thống vượt 11,1 triệu tỷ đồng, khối NHTM Nhà nước chiếm 43,8%, NHTM cổ phần chiếm 41,2%) để chứng minh tính tất yếu của việc tái cấu trúc các nhóm đồng hạng.
- Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc chỉ rõ nguyên nhân bất cập trong cơ chế trừ điểm định tính 3 bước tại Thông tư 23, đồng thời đề xuất cụ thể việc tích hợp các quy chuẩn quản trị rủi ro của Thông tư 13/2018/TT-NHNN và phương pháp RBS vào khung CAMELS tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có giới hạn tiếp cận nhất định xuất phát từ tính chất bảo mật của dữ liệu xếp hạng:
- Hạn chế: Theo quy định hiện hành của NHNN, kết quả xếp hạng cụ thể của từng TCTD qua các năm (2021, 2022) được quản lý theo chế độ tài liệu mật phục vụ nội bộ ngành ngân hàng, không công bố rộng rãi trên truyền thông. Do đó, nghiên cứu chủ yếu phân tích trên các văn bản quy phạm, dữ liệu thống kê tổng hợp toàn hệ thống và các vụ việc sai phạm đã được xét xử công khai, chưa thể tiếp cận chi tiết bảng điểm thành phần của từng ngân hàng cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi việc thực thi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024); nghiên cứu sâu hơn về mô hình lượng hóa xác suất rủi ro vỡ nợ (P/D) và tỷ lệ tổn thất dự báo (LE) khi áp dụng thí điểm phương pháp RBS đối với các tập đoàn tài chính, ngân hàng có tầm quan trọng hệ thống tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về các phương pháp xếp hạng CAMELS, CAMEL-R, ROCA và đối chiếu chi tiết kỹ thuật lập quy giữa Quyết định 06 và Thông tư 52/Thông tư 23.
- Cán bộ làm công tác pháp chế, quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại và TCTD: Giúp hiểu rõ logic chấm điểm định lượng, cơ chế trừ điểm vi phạm hành chính 3 bước của NHNN để chủ động rà soát hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Nhà nghiên cứu chính sách tiền tệ, ngân hàng: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị về quá trình nội luật hóa các chuẩn mực Basel II, Basel III và IFRS 9 vào công tác thanh tra, giám sát ngân hàng tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao Thông tư 52 không công bố công khai kết quả xếp hạng TCTD như Quyết định 06 trước đây?
Quyết định 06 quy định công bố kết quả xếp loại trên website của NHNN, mang tính chất thông tin thị trường cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, Thông tư 52 xác định mục đích cốt lõi của hoạt động xếp hạng là phục vụ trực tiếp công tác quản lý nhà nước, thanh tra, giám sát, cảnh báo sớm và xử lý TCTD yếu kém. Việc công bố công khai có thể dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt (bank run) tại các ngân hàng bị hạ bậc, đe dọa an toàn toàn hệ thống.
2. Các TCTD nào thuộc diện không xem xét, xếp hạng theo quy định tại Thông tư 52?
Văn bản quy định 3 nhóm TCTD không thực hiện xếp hạng: (1) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang trong tình trạng kiểm soát đặc biệt; (2) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã gửi hồ sơ đề nghị giải thể hoặc đã có văn bản yêu cầu thanh lý tài sản, thu hồi giấy phép; (3) TCTD có thời gian hoạt động chưa đủ 24 tháng kể từ ngày khai trương hoạt động.
3. Cơ chế trừ điểm đối với nhóm chỉ tiêu định tính theo Thông tư 23 có điểm gì mới so với Thông tư 52?
Thông tư 23 áp dụng quy trình 3 bước: tính điểm theo tương quan mức phạt vi phạm hành chính với vốn tự có riêng lẻ (tính đến yếu tố quy mô mạng lưới chi nhánh); phân biệt mức trừ điểm giữa vi phạm bị thanh tra phát hiện (trừ 0,1 điểm/lần) với vi phạm do TCTD tự phát hiện và báo cáo (chỉ trừ 0,05 điểm/lần); và bổ sung cơ chế trừ thẳng 1 điểm nếu không khắc phục kiến nghị, cảnh báo của NHNN về quản trị, điều hành.
4. Tại sao Thông tư 23 lại điều chỉnh giảm trọng số tiêu chí tỷ lệ nợ xấu và tăng trọng số tiêu chí cấp tín dụng cho khách hàng lớn?
Việc giảm trọng số tiêu chí tỷ lệ nợ xấu (từ 45% xuống 40% ở khối NHTM) và nâng ngưỡng nhằm thích ứng với chính sách cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 theo Thông tư 01 và 03. Ngược lại, việc tăng trọng số tiêu chí khách hàng lớn (từ 20% lên 25%) nhằm quán triệt chỉ đạo ngăn chặn tình trạng cấp tín dụng tập trung cho các doanh nghiệp "sân sau", hệ sinh thái gây mất an toàn hệ thống.
5. Nhóm đồng hạng các NHTM có quy mô tổng tài sản trên 1 triệu tỷ đồng được tác giả đề xuất dựa trên căn cứ nào?
Căn cứ vào dữ liệu quy mô hệ thống ngân hàng tính đến đầu năm 2019, toàn hệ thống đạt trên 11,1 triệu tỷ đồng tổng tài sản; trong đó khối NHTM Nhà nước và các NHTM cổ phần lớn chiếm tỷ trọng chi phối (mỗi khối chiếm trên 40%). Việc các ngân hàng có tài sản vượt 1 triệu tỷ đồng bị xếp chung ngưỡng với các ngân hàng quy mô vài chục đến một trăm nghìn tỷ đồng không phản ánh đúng mức độ rủi ro hệ thống và tính phức tạp trong hoạt động của nhóm dẫn đầu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của học viên Nguyễn Tuấn Anh đã nghiên cứu toàn diện khung pháp lý và thực tiễn thi hành các quy định về xếp hạng TCTD tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các mô hình CAMELS, RBS và kỹ thuật chấm điểm theo Thông tư 52 cùng Thông tư 23, tác giả đã làm rõ những chuyển biến tích cực trong việc lượng hóa rủi ro và tăng cường vai trò chủ động của cơ quan giám sát. Các đề xuất phân tách nhóm ngân hàng quy mô trên 1 triệu tỷ đồng, chi tiết hóa thang điểm và tích hợp chuẩn mực quản trị rủi ro Thông tư 13 mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế ngân hàng tại Việt Nam.