Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Tài chính doanh nghiệp Theo tác giả Phan Trọng Nghĩa (2022) [12] “Tài chính doanh nghiệp được hiểu là các mối quan hệ về mặt giá trị được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập”. Nội dung của những quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp, bao gồm: - Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, khi Nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường tài chính doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Ngược lại, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trã lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
- Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Trong nền kinh tế doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ và thị trường sức lao động. Đây là những thị trường mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động. Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
- Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp gồm: + Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán. 8 + Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần. + Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hòa vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp, với Tổng công ty. Phân tích tài chính Theo các nghiên cứu của tác giả Ngô Thế Chi; tác giả Nguyễn Trọng Cơ trong quyển “Phân tích tài chính doanh nghiệp”dùng cho sinh viên khối chuyên ngành kế toán, kiểm toán, tài chính doanh nghiệp, 2015 [4], hay trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Cơ và tác giả Nghiêm Thị Thà, 2015 [7, tr.8] đã chỉ ra rằng“Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, dự đoán tình hình tài chính trong tương lai của doanh nghiệp, giúp cho nhà quản lý đưa ra các quyết định quản lý hợp lý, phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm”.
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là một công cụ hữu ích để xác định giá trị kinh tế, đo lường sức khỏe của một DN, đánh giá độ mạnh yếu của DN, là căn cứ để chủ thể quản lý, nhà đầu tư… để ra quyết định. Ngoài ra còn một số khái niệm về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp như: - Theo Vũ Duy Hào (2000) [9]: “Phân tích báo cáo tài chính là một trong những hoạt động quan trọng giúp cho người sử dụng thông tin có được sự đánh giá khách quan về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính, làm cơ sở cho việc ra các quyết định kinh tế - tài chính.” - Theo Nguyễn Ngọc Quang (2013) [15]: “Phân tích báo cáo tài chính là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an toàn tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ.” Tóm lại, chúng ta có thể hiểu phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh các số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp. Phân tích báo cáo tài chính thực chất là 9 phân tích các chỉ tiêu tài chính trên hệ thống báo cáo hoặc các chỉ tiêu tài chính mà nguồn thông tin từ hệ thống báo cáo nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp thông tin cho mọi đối tượng có nhu cầu theo mục tiêu khác nhau.
Nội dung công tác phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Phương pháp phân tích tài chính Một số phương pháp được sử dụng hiệu quả trong công tác phân tích như phương pháp so sánh, phương pháp phân chia, phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích ảnh hưởng nhân tố (thay thế liên hoàn, số chênh lệch, cân đối), phương pháp phân tích dupont, phương pháp dự báo… [6][15][14][22] 1. Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Khi so sánh, có thể so sánh bằng số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân.
Để đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cần phải so sánh chi tiêu phân tích với số kế hoạch đề ra, số liệu tương ứng trong quá khứ và số trung bình ngành. Mỗi cơ sở so sánh sẽ đưa ra những góc độ đánh giá khác nhau về thực trạng của chỉ tiêu phân tích, cụ thể như sau: - Khi so sánh chi tiêu phân tích với số kế hoạch sẽ đánh giá mức độ thực hiện so với kế hoạch đặt ra. - Khi so sánh chi tiêu phân tích với số kỳ trước (so sánh theo thời gian) sẽ cho thấy xu hướng và tốc độ phát triển của doanh nghiệp. - Khi so sánh chỉ tiêu phân tích với số liệu của các doanh nghiệp khác cùng ngành hoặc số trung bình ngành để thấy được vị thế của doanh nghiệp đó trong ngành và mức độ hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp đó so với các doanh nghiệp khác cùng ngành.
Phương pháp so sánh đòi hỏi các chỉ tiêu phân tích và các chỉ tiêu dùng làm cơ sở để so sánh phải đáp ứng yêu cầu sau: - Phải cùng thống nhất về nội dung phản ánh. - Phải cùng phương pháp tính toán và đơn vị tính. - Phải được xác định trong cùng độ dài thời gian hoặc những thời điểm tương ứng. 10 Lưu ý, khi so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành phải cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự nhau.
Phương pháp phân chia Phương pháp phân chia (chi tiết) được sử dụng để chia nhỏ quá trình và kết quả thành những bộ phận khác nhau phục vụ cho mục tiêu nhận thức quá trình và kết quả đó dưới những khía cạnh khác nhau. Thông thường trong phân tích thường chi tiết thành: - Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: chia nhỏ chỉ tiêu nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó. - Chi tiết theo thời gian phát sinh và kết quả kinh tế: chia nhỏ quá trình và kết quả theo trình tự thời gian phát sinh và phát triển. - Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế: chia nhỏ quá trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu nghiên cứu.
Phương pháp liên hệ, đối chiếu Là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét tính cân đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiện các hoạt động. Sử dụng phương pháp này cần chú ý đến các mối liên hệ mang tính nội tại, ổn định, chung nhất và được lặp đi lặp lại, các liên hệ ngược, liên hệ xuôi, tính cân đối tổng thể, cân đối từng phần. Vì vậy, cần thu thập được thông tin đầy đủ và thích hợp về các khía cạnh liên quan đến các luồng chuyển dịch giá trị và sự vận động của các nguồn lực trong DN. Phương pháp tỷ lệ Phương pháp tỷ lệ là phương pháp được xây dựng trên cơ sở xác định tỷ lệ, mối quan hệ giữa các khoản mục tài chính dưới dạng phân số.
Thông thường, phương pháp tỷ lệ gồm ba loại cơ bản sau: Thứ nhất, tính tỷ lệ theo chiều dọc của báo cáo tài chính Đối với Bảng cân đối kế toán: xác định tỷ trọng phần trăm (%) của các khoản mục trên tổng tài sản (tổng nguồn vốn) nhằm đánh giá cơ cấu của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp. 11 Đối với Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: xác định tỷ trọng phần trăm (%) của các khoản mục có liên quan trực tiếp với doanh thu trên doanh thu (doanh thu thuần) nhằm đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng chi phí của doanh nghiệp. Thứ hai, tỉnh tỷ lệ theo chiều ngang của bảo cáo tài chính Tính tỷ lệ theo chiều ngang của báo cáo tài chính nhằm xem xét tốc độ tăng giảm, xu hướng biến động của các khoản mục trên báo cáo tài chính. Thứ ba, tỉnh tỷ lệ các khoản mục trong mối quan hệ với các khoản mục khác trong các báo cáo tài chính Về cơ bản, các tỷ lệ tài chính này được phân thành 5 nhóm phân ánh những nội dung theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Đó là nhóm tỷ số về khả năng thanh toán, nhóm tỷ số về khả năng hoạt động, nhóm tỷ số phản ánh khả năng cân đối vốn, nhóm tỷ số khả năng sinh lợi và nhóm tỷ số giá trị thị trường.