Chương 1. Những vấn đề chung về nhượng quyền thương mại 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nhượng quyền thương mại 1.1 Quá trình hình thành và phát triển của NQTM trên thế giới Từ cách đây hàng trăm năm, franchise đã bắt đầu xuât hiện tại các quốc gia ở châu Âu và sau đó lan rộng đến Mỹ và phát triển bùng nổ. Từ “franchise” có nguồn gốc từ tiếng Pháp là “franc” có nghĩa là “freedom” (tự do).Vào những năm 1840, khi một số nhà sản xuất rượu bia ở Đức áp dụng hình thức cho phép các quán rượu bán độc quyền loại bia mà họ sản xuất ra, bước khởi đầu cho khái niệm nhượng quyền mà chúng ta biết đến ngày nay. Đến năm 1891, công ty sản xuất máy may Singer (Pháp) đã bắt đầu tiến hành phân phối sản phẩm máy may của mình bằng hình thức nhượng quyền.
Singer đã sử dụng các hợp đồng nhượng quyền dưới dạng văn bản, tiền đề cho các thỏa thuận văn bản nhượng quyền ngày nay. Những năm 1880, các thành phố châu Âu cũng bắt đầu cho phép hoạt động nhượng quyền ở những công ty vận tải, công ty dịch vụ công cộng chuyên cung cấp nước, hệ thống cống rãnh, gas và sau đó là ngành điện. Sang thế kỷ XX, các nhà máy tinh luyện dầu và các nhà sản xuất xe hơi được cung cấp đặc quyền để bán sản phẩm của họ. Vào giai đoạn này việc triển khai hình thức nhượng quyền chỉ dừng lại ở mức cung cấp đặc quyền để phân phối và bán các sản phẩm của nhà sản xuất.
Năm 1908, hãng General Motors của Mỹ cũng đã thiết lập cho mình một hệ thống phân phối thông qua việc cấp li-xăng cho các đơn vị bán hàng riêng lẻ được phép phân phối xe hơi của hãng. Các đơn vị này sẽ đầu tư mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cho hoạt động phân phối, đổi lại các đơn vị này sẽ được General Motors công nhận là nhà phân phối độc quyền và sẽ được mua xe từ chính hãng với giá ưu đãi.Hệ thống phân phối đã góp phần tạo nên thành công vang dội cho General Motor vào thời điểm đó. Tuy nhiên, các hoạt động nhượng quyền này chỉ mới dừng lại ở hình thức nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise). Mối quan hệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 giữa bên nhận và bên nhượng quyền ở đây chỉ bao hàm việc cho phép phân phối và bán sản phẩm của nhà sản xuất.
Nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh - Business format franchise, hình thức phổ biến nhất của nhượng quyền hiện nay, bắt đầu xuất hiện từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai trong sự trở lại của hàng triệu các quân nhân và sự bùng nổ của lớp trẻ kế tục. Trong bối cảnh kinh tế với nhu cầu rất lớn trong tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ, sự phát triển của mô hình kinh doanh nhượng quyền thật sự lớn mạnh khi hàng loạt thương hiệu trong các ngành dịch vụ, bán lẻ, chuỗi khách sạn, nhà hàng thức ăn nhanh ra đời. Thay vì chỉ cấp li-xăng cho các đơn vị phân phối hoặc bán sản phẩm, mối quan hệ giữa bên nhận và bên nhượng quyền bao gồm thêm việc chuyển giao kỹ thuật kinh doanh và công thức điều hành quản lý. Các chuẩn mực của mô hình kinh doanh của chủ thương hiệu được tuyệt đối giữ đúng tại các cơ sở của bên nhận quyền thương mại.Bắt đầu từ đó, nhượng quyềnngày càng phát triển và phổ biến khắp thế giới, đặc biệt là trong thập niên 90 của thế kỷ XXcùng ra đời và hình thành của hàng loạt thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng toàn cầu như McDonald’s, Holiday Inn, Subway, 7- Eleven, Wal-Mark.2 Lịch sử phát triển NQTM tại Việt Nam: Hoạt động nhượng quyền tại Việt Nam bắt đầu hình thành từ cuối những năm 1990 với sự xuất hiện của chuỗi các cửa hàng thức ăn nhanh nổi tiếng như KFC, Lotteria, Jollibee.
Việc thông qua các luật và quy định về nhượng quyền thương mại đã thúc đẩy các hoạt động nhượng quyền phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, làm cho số lượng các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng của cả Việt Nam và nước ngoài ngày một gia tăng. Theo thống kê của Phòng Dịch vụ thương mại, Tổng lãnh sự quán Hoa Kỳ tại TP.Hồ Chí Minh thì tính tới tháng 06/2013, đã có trên 90 hệ thống nhượng quyền quốc tế có mặt tại Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực đồ ăn và nước uống như KFC, Subway, Starbucks Coffee, Jollibee, Lotteria, Bread Talk, Burger King, Carl’s Jr, Pizza Hut, Hard Rock Café, Domino’s Pizza, Roundtable Pizza, Z Pizza, Coffee Bean TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 and Tea Leaf, Popeye’s Chicken, Illy Café, Baskin Robbins and Gloria Jean’s Coffee…Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của các thương hiệu này trong những năm gần đây lên đến 30%, đã khẳng định phần nào sự hấp dẫn của loại hình kinh doanh này tại Việt Nam. Tuy nhiên, để áp dụng thành công mô hình kinh doanh này thì cần có sự hiểu biết thấu đáo, toàn diện về đặc điểm, cách thức vận hành, ưu nhược điểm của mô hình cũng như những kinh nghiệm khi áp dụng từ những quốc gia đi trước. Đó là những nội dung mà chúng ta sẽ cùng xem xét dưới đây.2 Khái niệm và đặc điểm của nhượng quyền thương mại Theo Hiệp hội Nhượng quyền Kinh doanh Quốc tế (The International Franchise Association), tổ chức lâu đời và lớn nhất đại diện cho NQTM trên toàn thế giới thì NQTM được định nghĩa là: “NQTM là một thỏa thuận hoặc cấp phép giữa hai pháp nhân độc lập, mà trong đó: • Một người hoặc nhóm người (bên nhận quyền thương mại) có quyền buôn bán một sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng thương hiệu hoặc tên thương mại của một bên kinh doanh khác (Bên nhượng quyền).
• Bên nhượng quyền có quyền buôn bán một sản phẩm hoặc dịch vụ sử dụng những cách thức điều hành của của Bên nhượng quyền. • Bên nhận quyền thương mại có nghĩa vụ trả cho bên nhượng quyền một khoản phí để có những quyền này. • Bên nhượng quyền có nghĩa vụ cấp quyền và hỗ trợ cho những người nhận quyền thương mại.” “A franchise is the agreement or license between two legally independent parties which gives: • a person or group of people (franchisee) the right to market a product or service using the trademark or trade name of another business (franchisor) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 • the franchisee the right to market a product or service using the operating methods of the franchisor • the franchisee the obligation to pay the franchisor fees for these rights • the franchisor the obligation to provide rights and support to franchisees” Định nghĩa này làm rõ hình thức NQTM thông qua việc chỉ ra quyền và nghĩa vụ cơ bản của bên nhận quyền và bên nhượng quyền trong một quan hệ nhượng quyền. Còn theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade Commission - FTC) thì “nhượng quyền – những thỏa thuận kinh doanh mà cung cấp cho bên mua quyền được hoạt động dưới một thương hiệu hoặc biểu tượng thương mại khác và thường là cung cấp một định dạng hoặc phương pháp kinh doanh cụ thể, chẳng hạn như chuỗi các nhà hàng và khách sạn”.Trong khi đó, liên minh Châu Âu - EU lại định nghĩa theo hướng chi tiết khái niệm quyền thương mại là một "tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng".
Nhượng quyền thương mại có nghĩa là việc chuyển nhượng quyền kinh doanh được khái niệm ở trên. Tại Việt Nam, khái niệm nhượng quyền thương mại được quy định trong Luật Thương Mại Việt Nam số 36/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005, tại điều 284, Mục 8, Chương VI về một số hoạt động thương mại cụ thể khác: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: 1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”.
Các khái niệm NQTM trên được chọn lọc dựa trên sự khác nhau trong việc quy định trong quản lý điều chỉnh của từng nước khác nhau, tuy nhiên có thể nhận thấy NQTM là một cách thức kinh doanh với những đặc điểm chung như sau (Vũ Chí Lộc, 2009): Thứ nhất là về bản chất hoạt động nhượng quyền thương mại. Theo quy định của Luật Thương Mại của Việt Nam thì NQTM là một hoạt động thương mại (là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác) trong đó có sử dụng chung thương hiệu. Đối tượng trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chính là quyền sử dụng thương hiệu của bên nhượng quyền. Thương hiệu ở đây không chỉ là cái tên, mà là một tập hợp các dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để giúp khách hàng nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Thương hiệu khác với nhãn hiệu.Trên thực tế NQTM chủ yếu được áp dụng đối với các thương hiệu nổi tiếng, có tên tuổi. Tuy nhiên cùng phải lưu ý rằng NQTM chỉ liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng thương hiệu chứ tuyệt nhiên không có sự chuyển giao quyền sở hữu thương hiệu. Thứ hai, bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc tiến hành công việc kinh doanh. Chính vì mối quan hệ đồng hành này giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền nên trong Luật Chuyển giao công nghệ của Việt nam đã coi NQTM cũng là một trong các hình thức hoạt động chuyển giao công nghệ.
Thứ ba là về địa vị pháp lý của các chủ thể trong NQTM. Trong mối quan hệ NQTM thì các bên đều là những chủ thể độc lập với nhau về địa vị pháp lý. Có thể nói đây là đặc thù của NQTM so với các hình thức kinh doanh gần giống như chi nhánh thương mại, địa điểm kinh doanh (cửa hàng).