CHƯƠNG 1 3 TỎNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề chung về bảo lãnh ngân hàng 1. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng a. Định nghĩa bảo lãnh Bảo lãnh là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại đã xuất hiện vào giữa những năm 60 trong thị trường nội địa nước Mỹ.
Sau này bảo lãnh được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Các quốc gia thịnh vượng mau chóng áp dụng vì sản xuất dầu mỏ ở Trung Đông liên tục ký kết những hợp đồng kinh tế lớn với những nước phương tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, dự án canh tân công, quốc phòng,. Giá trị rất lớn của các hợp đồng và thế mạnh tài chính của các quốc gia Trung Đông đã cho phép họ phải có một sự đảm bảo chắc chắn về phía đối tác khi tham gia vào các thương vụ giao dịch. Những bảo lãnh độc lập do ngân hàng của các nước phương Tây phát hành đã thực sự đáp ứng được yêu cầu về sự thuận lợi và an toàn cho các quốc gia nhập khẩu.
Kể từ đó đến nay với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (kể cả tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi thương mại) vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc chắn. Có thể khẳng định rằng hầu hết những giao dịch lớn trong phạm vi quốc tế cũng như trong nội địa đều có sự hỗ trợ bảo lãnh của ngân hàng. Doanh số các nghiệp vụ này ngày càng gia tăng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tại Việt Nam, vào đầu những năm 90, khi nền kinh tế nước ta đang dần hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, các hoạt động ngân hàng cũng trở nên đa dạng và phong phú, trong đó nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh được phát triển như một tất yếu khách quan.
Nhưng do thiếu sự chỉ đạo thống nhất bằng những văn bản pháp lý chặt chẽ nên các hoạt động bảo lãnh trong thời kỳ này còn tùy tiện và thiếu hiệu quả. Để khắc phục tình trạng đó, ngày 19/09/1992 Thống đốc Ngân hàng ban hành quyết định số 192/NH-QĐ về bảo 4 lãnh, tái bảo lãnh, vay vốn nước ngoài nhằm đưa hoạt động bảo lãnh vào kỷ cương thống nhất. Ngày 16/09/1994 Thống đốc ngân hàng ban hành quyết định số 196/QĐ- NH14 về quy chế nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. Với văn bản này NHNN đã tạo được một cơ chế pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng.
Những năm sau đó, bảo lãnh ngân hàng nhanh chóng phát triển cùng xu hướng mở rộng các quan hệ kinh tế trong và ngoài nước. Các hình thức bảo lãnh ngân hàng được áp dụng áp dụng ngày càng đa dạng với doanh số ngày càng cao cho thấy tiềm năng phát triển dịch vụ này trong điều kiện nền kinh tế nước ta là rất lớn. Ngày 25/08/2000 Thống đốc NHNN Việt Nam đã ra quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14 về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng để thay thế cho các quy chế trước đây. Theo điều 361 luật dân sự việt nam “ bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”. Vậy bảo lãnh ngân hàng được hiểu như thế nào? Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận. Quan hệ giữa các bên trong bảo lãnh ngân hàng 5 b. Đặc điểm của hoạt động bảo lãnh Bảo lãnh là mối quan hệ nhiều bên, phụ thuộc lân nhau Trong nghiệp vụ bảo lãnh thường có sự kết hợp giữa 3 hợp đồng độc lập: Hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Tuy có sự phân chia, nhưng ba mối quan hệ này vẫn liên hệ và có ảnh hưởng lẫn nhau. Mỗi bên có trách nhiệm thực hiện hợp đồng với hai bên còn lại. Tính độc lập của bảo lãnh Bảo lãnh ngân hàng có một đặc tính quan trọng là tính độc lập với hợp đồng. Mặc dù mục đích của bảo lãnh ngân hàng là bồi hoàn cho người thụ hưởng vì thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng, những việc thanh toán cho bảo lãnh lại hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điều kiện như được quy định trong bảo lãnh và ngân hàng không thể dựa vào quyền kháng nghị có được từ quan hệ hợp đồng.
Có nghĩa là khi các điều khoản, điều kiện của bảo lãnh được đáp ứng thì về mặt pháp lý người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán tiền mà không cần thiết phải chứng minh việc vi phạm của người được bảo lãnh mà chỉ cần lập chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh. Tuy nhiên tính phụ thuộc của bảo lãnh còn phụ thuộc vào các điều kiện của bảo lãnh. Nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán 6 dựa theo văn bản yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán mà không cần điều kiện nào ngoài viêc tạo thành văn bản yêu cầu. Ngân hàng sau khi nhận được văn bản yêu cầu phải thanh toán ngay cho người thụ hưởng và buộc người bảo lãnh phải hoàn trả cho ngân hàng bảo lãnh.
Ngược lại, nếu bảo lãnh yêu cầu một chứng từ như phán quyết của tòa án, một quyết định của trọng tài kinh tế hay văn bản của người được bảo lãnh thừa nhận sự vi phạm của mình thì tính độc lập của bảo lãnh giảm đi nhiều. Tính độc lập còn thể hiện ở trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành với người được bảo lãnh. Ngân hàng phát hành không thể viện lý do giữa ngân hàng bảo lãnh với người được bảo lãnh như: người được bảo lãnh vẫn còn khoản nợ với ngân hàng, người được bảo lãnh và người được thụ hưởng vẫn còn đang tranh chấp về hình thức vi phạm và mức độ thiệt hại.
để trì hoãn thanh toán nếu chứng từ đã hoàn toàn phù hợp. Tính phù hợp của bảo lãnh: Trong một thương vụ bảo lãnh, khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu ngân hàng thanh toán thì ngân hàng phải có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình có phù hợp với điều khoản và điều kiện của bảo lãnh không. Ngân hàng phát hành có quyền từ chối thanh toán nếu chứng từ có dấu hiệu bất hợp lệ hay những điều khoản và điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng. Nếu ngân hàng không thực hiện đúng trách nhiệm kiểm tra chứng từ của mình thì ngân hàng phát hành sẽ không được bồi hoàn từ người được bảo lãnh.
Do đó việc kiểm tra chứng từ phải nghiêm túc, chính xác, trung thực, và khách quan bởi đó chính là lợi ích của ngân hàng. Bảo lãnh NH là một hoạt động ngoại bảng Bảo lãnh NH là hình thức tài trợ thông qua uy tín. NH không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh do đó bảo lãnh được coi là một tài sản ngoại bảng. 7 Bảo lãnh NH chỉ được xếp vào nội bảng khi NH phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên nhận bảo lãnh.
Lúc này nó được xếp vào loại tài sản xấu cấu thành nợ quá hạn. Như vậy bảo lãnh cũng chứa đựng rủi ro như một khoản cho vay đòi hỏi NH phải phân tích kỹ khách hàng trước khi nhận bảo lãnh. Bảo lãnh có tính hiệu lực tức thời Bảo lãnh ngân hàng nhằm ngăn chặn những rủi ro phát sinh trong những hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời bù đắp những thiệt hại về mặt tài chính cho người thụ hưởng một cách mau chóng và chính xác. Do đó trong nội dung của thư bảo lãnh có quy định về thực hiện ngay (tức là khi làm rõ những bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng) một khi phát sinh yêu cầu thực hiện bảo lãnh.
Chức năng của bảo lãnh a. Bảo lãnh được dùng như công cụ bảo đảm Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp cho người thụ hưởng bảo lãnh một sự bảo đảm chắc chắn với quyền lợi của họ. Mục đích của bảo lãnh là cung cấp cho người thụ hưởng một khoản bồi hoàn tài chính cho những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của người xin bảo lãnh gây ra. Mặc dù trên thực tế, khi đòi hỏi phải có hoạt động bảo lãnh, người nhận bảo lãnh hoàn toàn không mong đợi bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng để được bồi hoàn từ bên bảo lãnh.
Họ chỉ coi đó là một công cụ có tính chất đảm bảo an toàn cho mình khi có biến cố vi phạm hợp đồng của bên được bảo lãnh. Bảo lãnh được dùng như là công cụ tài trợ Nhu cầu về vốn luôn là một vấn đề cần thiết đối với mọi chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế. Đặc biệt là trong các hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng mua bán có giá trị lớn, thời gian thực hiện kéo dài thì vấn đề tìm nguồn tài trợ càng trở nên bức xúc. Trong điều kiện các công ty khó tiếp 8 cận được với nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng.
Ngân hàng chấp nhận phát hành bảo lãnh cho công ty xây dựng cũng là một phương thức tài trợ. Ngân hàng phát hành cam kết bảo lãnh cho công ty xây dựng để thanh toán cho người thụ hưởng trong trường hợp công ty xây dựng vi phạm nghĩa vụ quy định trong bảo lãnh. Rõ ràng ngân hàng không đứng ra cho vay mà chỉ tài trợ trên danh nghĩa để nhà thầu (công ty xây dựng) có thể nhận được vốn ứng trước của chủ thầu, giải quyết khó khăn về vốn. Đó là một minh chứng cho vai trò tài trợ của bảo lãnh ngân hàng.