Chương 1: Tổng quan về công tác lập và phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng công tác lập và phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Tổng công ty Phát điện 1; Chương 3: Hoàn thiện công tác lập và phân tích Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Tổng công ty Phát điện 1. ~7~ CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC LẬP VÀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm Báo cáo tài chính Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản và nguồn vốn hình thành tài sản, cũng như tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ trong kỳ của doanh nghiệp.
Nói cách khác, Báo cáo tài chính là phương tiện trình bày thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp cho những người quan tâm (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, nhà cho vay, cơ quan thuế và các cơ quan chức năng…). Theo Chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành, hệ thống Báo cáo tài chính của doanh nghiệp gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh Báo cáo tài chính. Vai trò của Báo cáo tài chính BCTC có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan chủ quản và những đối tượng quan tâm. Có thể khái quát vai trò của BCTC trên các điểm sau: Thứ nhất, BCTC cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh… của DN trong kỳ hoạt động đã qua, giúp cho người đọc thấy được bức tranh tổng quan về tình hình tài chính của DN; Thứ hai, BCTC cung cấp các số liệu cần thiết để tính toán các chỉ tiêu kinh tế phục vụ công tác phân tích tài chính, đánh giá về quá trình hoạt động, kết quả kinh doanh cũng như khả năng tiềm tàng và xu hướng vận động của DN.
Những thông tin từ BCTC có vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc ra các quyết định về quản lý, điều hành DN của chủ sở hữu, quyết định về hướng đầu tư và quy mô đầu tư vào DN của các nhà đầu tư, quyết định cho vay của các chủ nợ hiện tại và tương lai, ~8~ quyết định hợp tác với DN của các đối tác, khách hàng, quyết định thanh kiểm tra của các cơ quan cấp trên…; Thứ ba, BCTC cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng, cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô, kiểm soát tình hình tuân thủ pháp luật, chế độ chính sách của DN; Bên cạnh đó, BCTC là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng các kế hoạch kinh tế, kỹ thuật, tài chính của DN, là căn cứ khoa học để đề ra hệ thống các biện pháp xác thực nhằm tăng cường quản trị doanh nghiệp, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả SXKD, tăng lợi nhuận cho DN; Ngoài ra, các thông tin trên BCTC còn có tác dụng củng cố niềm tin và sức mạnh cho đội ngũ cán bộ công nhân viên của DN, thúc đẩy họ nhiệt tình, hăng say trong lao động, sát cánh cùng DN. Yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính Yêu cầu lập và trình bày Báo cáo tài chính được quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày Báo cáo tài chính”. Theo đó, BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền của DN. Để đảm bảo yêu cầu này, DN cần tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành trong việc lập và trình bày BCTC, lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp, xử lý và trình bày thông tin lên BCTC đảm bảo tính đáng tin cậy, đầy đủ trên các khía cạnh trọng yếu, khách quan và so sánh được, thích hợp để giúp người sử dụng BCTC có thể phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế.
Đồng thời, DN cũng cần nêu rõ việc tuân thủ đầy đủ hệ thống các quy định trên trong Thuyết minh BCTC và cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không đủ để giúp cho người sử dụng BCTC hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính được quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày Báo cáo tài chính”. Theo đó, việc lập và trình ~9~ bày BCTC cần tuân thủ 6 nguyên tắc: hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu và tập hợp, bù trừ và có thể so sánh. Nguyên tắc hoạt động liên tục BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là DN đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi DN có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình.
Khi lập và trình bày BCTC, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) DN cần xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được tối thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán để đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của DN. Nếu có những vấn đề liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của DN, cần nêu rõ lý do khiến DN không được coi là hoạt động liên tục và cơ sở để lập BCTC trong trường hợp này. Nguyên tắc cơ sở dồn tích DN phải lập BCTC theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền. Theo nguyên tắc này, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của các kỳ kế toán liên quan.
Các khoản chi phí được ghi nhận vào BCKQHĐKD theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Nguyên tắc nhất quán Việc trình bày và phân loại các khoản mục trên BCTC phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của DN hoặc khi xem xét lại việc trình bày BCTC cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện hoặc có chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày BCTC. Việc thay đổi cách trình bày BCTC chỉ được thực hiện khi cấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc nếu lợi ích của cách trình bày mới được xác định rõ ràng. Khi có thay đổi trong cách trình bày BCTC, DN phải phân ~ 10 ~ loại lại các thông tin mang tính so sánh cho phù hợp, đồng thời phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần Thuyết minh BCTC.
Nguyên tắc trọng yếu và tập hợp Một thông tin được coi là trọng yếu nếu việc không trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC. Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu hay không trọng yếu, phải đánh giá tính chất và quy mô của chúng. Theo nguyên tắc trọng yếu, DN không nhất thiết phải tuân thủ các quy định về trình bày BCTC của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tính trọng yếu. Nguyên tắc bù trừ Khi lập và trình bày BCTC, các khoản mục tài sản và nợ phải trả không được bù trừ lẫn nhau mà phải trình bày riêng biệt, trừ khi có chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ.
Các khoản mục doanh thu, thu nhập khác và chi phí chỉ được bù trừ khi có quy định tại chuẩn mực kế toán khác hoặc các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu. Nguyên tắc có thể so sánh Theo nguyên tắc này, các thông tin trên BCTC phải được trình bày tương ứng để có thể so sánh được giữa các kỳ kế toán. Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trên BCTC, DN cần nêu rõ lý do thay đổi và thực hiện phân loại lại các số liệu so sánh để đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại. Thời hạn nộp, nơi nhận Báo cáo tài chính Thời hạn nộp và nơi nhận BCTC được quy định tại Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp, cụ thể như sau: ~ 11 ~ 1.
Thời hạn nộp Báo cáo tài chính Các doanh nghiệp Nhà nước phải nộp BCTC quý chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý và nộp BCTC năm chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Riêng đối với các Công ty mẹ, Tổng công ty Nhà nước, thời hạn nộp quy định đối với BCTC quý là chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán quý và đối với BCTC năm là chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Đồng thời, các Công ty mẹ, Tổng công ty Nhà nước cần tự xây dựng quy định về thời hạn nộp BCTC quý, năm đối với các đơn vị trực thuộc. Đơn vị kế toán là Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh phải nộp BCTC năm chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm.
Đối với các đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp BCTC năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Bên cạnh đó, nếu trường hợp doanh nghiệp là đơn vị trực thuộc và cần nộp BCTC năm cho doanh nghiệp cấp trên thì thời hạn nộp BCTC này do doanh nghiệp cấp trên quy định. Nơi nhận Báo cáo tài chính Các doanh nghiệp lập BCTC và nộp tới các nơi nhận được hệ thống tại Bảng 1.