phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về Kiểm toán nội bộ Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng về tổ chức và hoạt động Kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động Kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm kiểm toán nội bộ KTNB lần đầu tiên xuất hiện tại Mỹ vào những năm 30 của thế kỉ 20, nhƣng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở công ty Worldcom và Eron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002. Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ phải báo cáo về kết quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty.
Luật Sarbanes-Oxley thể hiện sự quan tâm của Chính Phủ về việc phải triển khai một phƣơng pháp bài bản, hệ thống đối với những tổ chức có mức độ ảnh hƣởng mạnh mẽ đến xã hội. Đi đôi với sự mở rộng và khẳng định tầm quan trọng của KTNB đối với các đơn vị, xã hội cũng ngày càng thừa nhận vai trò chuyên môn của kiểm toán viên nội bộ. Chính vì thế, vào năm 1941, Tổ chức quốc tế về KTNB (IIA) đã đƣợc thành lập tại New York (Hoa Kỳ) và hiện IIA đã có hơn 50.000 thành viên trên toàn thế giới. Thành viên của IIA còn có các hiệp hội tại các địa phƣơng hoặc các tổ chức nghề nghiệp của các quốc gia.
Theo IIA, Kiểm toán nội bộ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “KTNB là hoạt động tư vấn và đảm bảo một cách khách quan và độc lập được thiết lập nhằm tăng giá trị và cải thiện hoạt động của tổ chức. Nó giúp một tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỉ luật để đánh giá và nâng cao hiệu lực của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị doanh nghiệp”. Khái niệm trên đã cho thấy mục đích cơ bản, bản chất và phạm vi của KTNB. Tại Việt Nam, cơ sở pháp lý đầu tiên liên quan đến KTNB xuất hiện vào tháng 11 năm 1997 cùng với sự ban hành quyết định 832-TC/QĐ/CĐKT của Bộ tài chính về quy chế kiểm toán nội bộ.
Trong hệ thống Ngân hàng Việt nam, thuật ngữ kiểm toán nội bộ chính thức xuất hiện khi Thống đốc NHNN ban hành quyết định số 4 03/1998/QĐ-NHNN3 ngày 3/1/1998 quy định về việc ban hành quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Và đến năm 2006, văn bản này đƣợc thay thế bằng quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng. Tháng 12 năm 2011, NHNN đã ban hành Thông tƣ 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nộ bộ và củng cố hoạt động kiểm toán nội bộ cho các TCTD Việt Nam, thay thế các Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN và 37/2006/QĐ-NHNN. Theo Thông tƣ 44, “Kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”.
Có khá nhiều quan điểm về KTNB, tuy nhiên các quan điểm không mâu thuẫn với nhau mà đều có sự tƣơng đồng, cho thấy hoạt động KTNB bao gồm 2 mảng lớn là xác nhận và tƣ vấn, với yêu cầu là đảm bảo tính khách quan và độc lập. Trong đó: - Dịch vụ xác nhận (asurance) liên quan đến việc kiểm toán viên nội bộ đánh giá một cách khách quan các bằng chứng thu thập đƣợc để đƣa ra ý kiến hay các kết luận độc lập về một quy trình, một hệ thống hay một vấn đề khác. Bản chất và phạm vi của hoạt động xác nhận đƣợc xác định bởi các kiểm toán viên nội bộ. - Hoạt động tƣ vấn: Khi thực hiện tƣ vấn, các kiểm toán viên nội bộ cần phải đảm bảo tính khách quan và không đƣợc nhận các trách nhiệm quản lý.
Dựa trên các công việc của KTNB, KTNB đƣợc kì vọng sẽ đƣa ra các khuyến nghị để hoàn thiện các bộ phận, các quy trình có cơ hội phát triển hoặc có những khiếm khuyết cần khắc phục. Thêm vào đó, KTNB có thể cung cấp các dịch vụ tƣ vấn trợ giúp một cách riêng biệt cho tất cả các cấp trong đơn vị, từ Hội đồng quản trị đến các nhân viên và các cấp quản lý trong việc thực hiện trách nhiệm của mình một cách hiệu quả. Vai trò của hệ thống KSNB và KTNB trong NHTM ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngƣời vẫn còn nhầm lẫn giữa hai khái niệm đó.
Nếu 5 các khái niệm đó không đƣợc hiểu đúng, sẽ dẫn tới tình trạng các nhà quản trị NH thiết lập nên một hệ thống KSNB và KTNB hoạt động không thực sự hiệu quả. Trong mô hình quản trị ngân hàng thì hệ thống KSNB luôn là một yếu tố mang tính sống còn. Theo COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission), “Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu sau: hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động; tính tin cậy, đầy đủ và kịp thời của các thông tin tài chính và thông tin quản lý; tuân thủ các quy định và luật lệ hiện hành”. Cũng theo COSO, hệ thống KSNB bao gồm 5 nhân tố có quan hệ mật thiết: giám sát quản lý và văn hóa kiểm soát, nhận biết và đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát và phân tách trách nhiệm, thông tin và truyền thông, các hoạt động giám sát và khắc phục hạn chế.
- Giám sát quản lý và văn hóa kiểm soát: là nền tảng ý thức, là văn hóa của tổ chức tác động đến ý thức kiểm soát của toàn bộ thành viên trong tổ chức. Nó đƣợc thể hiện thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực, triết lý quản lý, phong cách điều hành. - Nhận biết và đánh giá rủi ro: Các NH luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro. Do đó, điều cấp thiết cần làm nhƣ một phần của quá trình KSNB là nhận biết và đánh giá các rủi ro này.
Từ khía cạnh KSNB, quá trình đánh giá rủi ro cần xác định và đánh giá các nhân tố bên trong và bên ngoài – những nhân tố có thể ảnh hƣởng tiêu cực tới việc đạt đƣợc các mục tiêu của NH. Quá trình này cần bao trùm toàn bộ các rủi ro mà NH phải đối mặt và diễn ra trên tất cả các cấp độ của NH. - Các hoạt động kiểm soát và phân tách trách nhiệm: Là tập hợp những chính sách và thủ tục kiểm soát để đảm bảo cho các chỉ thị của các nhà quản lý đƣợc thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. - Thông tin và truyền thông: Các thông tin cần thiết phải đƣợc nhận dạng, thu thập và trao đổi trong tổ chức dƣới các hình thức và thời gian thích hợp, sao cho nó giúp mọi thành viên trong tổ chức thực hiện đƣợc nhiệm vụ của mình.
Thông tin và truyền thông 6 tạo ra báo cáo, cung cấp các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát tổ chức. Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hƣớng. - Các hoạt động giám sát và khắc phục hạn chế: Là quá trình đánh giá chất lƣợng của hệ thống KSNB theo thời gian. Những khiếm khuyết của hệ thống KSNB cần đƣợc phát hiện kịp thời để có những biện pháp khắc phục càng sớm càng tốt.
Mục tiêu chính của việc giám sát là nhằm đảm bảo cho hệ thống KSNB luôn hoạt động hữu hiệu. Có thể thấy rằng cả hệ thống KSNB và KTNB đều hƣớng đến mục đích là kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, chúng có vị trí và vai trò khác nhau trong NH. “Kiểm soát” là chỉ hoạt động, hệ thống KSNB là một hệ thống có tổ chức, bao gồm nhiều yếu tố, những yếu tố này đảm bảo cho NH hoạt động theo ý chí của ban lãnh đạo, đó chính là những chính sách, quy chế, quy định của Pháp luật, của NH mà bắt buộc mọi thành viên phải tuân theo.
Việc sử dụng các biện pháp để đảm bảo cho các chính sách, quy chế, quy định đó đƣợc thực hiện gọi là “hoạt động kiểm soát”. KTNB là một hoạt động thuộc cấu phần thứ 5 (Monitoring), đây là hoạt động giám sát một cách độc lập hệ thống KSNB trong một tổ chức, đƣợc thiết kế ngoài quy trình hoạt động thƣờng ngày. Do vậy, có thể thấy rằng hệ thống KSNB tồn tại dù cho NH ở bất kì quy mô nào, đó là điều kiện tiên quyết để NH tồn tại và phát triển. KTNB là một bộ phận đặc thù trong NH song NH không bắt buộc phải có.
NH có thể thiết lập một bộ máy KTNB nếu nhận thấy cần phải có thêm một biện pháp kiểm soát hữu hiệu. Hệ thống KSNB giống nhƣ một “hành lang” các quy định, chính sách, quy chế đƣợc thiết lập để bảo đảm cho NH hoạt động hiệu quả và đạt đƣợc các mục tiêu của mình, hoạt động kiểm soát là các thủ tục đƣợc áp dụng để đảm bảo rằng NH đang đi đúng trong “hành lang” đó; bộ phận KTNB có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động kiểm soát có thực sự diễn ra hay không, đánh giá mức độ kiểm soát của hệ thống một cách trung thực, khách quan, chỉ ra những hạn chế và đề xuất các khuyến nghị để hoàn thiện hệ thống KSNB.