CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH TIỀN LƯƠNG VÀ NHÂN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Khái quát chung về kiểm toán Báo cáo tài chính 1.1 Khái niệm về kiểm toán Báo cáo tài chính Kiểm toán là một công cụ quản lý kinh tế, nó không chỉ cần thiết đối với các nhà quản lý mà còn có vai trò quan trọng đối với sự quyết định của các nhà đầu tư. Theo giáo trình lý thuyết kiểm toán – Chủ biên GS.TS Nguyễn Quang Quynh thì kiểm toán là: “Xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”. Có nhiều cách để phân loại kiểm toán theo những tiêu thức khác nhau: - Phân loại kiểm toán theo bộ máy quản lý: bao gồm kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. - Phân loại kiểm toán theo đối tượng kiểm toán thì có ba loai: Kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán nghiệp vụ.
Trong đó, kiểm toán tài chính là loại phổ biến nhất.TS Vương Đình Huệ: “Kiểm toán BCTC là sự kiểm tra trình bày ý kiến nhận xét của KTV về tính trung thực, hợp lý, tính hợp thức và hợp pháp của BCTC”. Đối tượng của kiểm toán BCTC là BCTC. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200: “ BCTC là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị”. Để thực hiện hai chức năng chính là xác minh và bày tỏ ý kiến thì kiểm toán BCTC có hai phương pháp kiểm toán là kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra).
Việc vận dụng các phương pháp kiểm toán vào việc xác minh các nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản cấu thành các bảng khai tài chính hình thành nên ba loại trắc nghiệm cơ bản: Trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm số dư và trắc nghiệm phân tích. Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 Dịch vụ viết thuê đề tài – KB Zalo/Tele 0917.com - Trắc nghiệm công việc (test of transaction) là cách thức rà soát các nghiệp vụ hay hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trước hết là hệ thống kế toán ( giáo trình kiểm toán tài chính – 2006 – GS.TS Nguyễn Quang Quynh – TS. Ngô Trí Tuệ - trang 19). Trắc nghiệm công việc thường được áp dụng để xác định tính đúng đắn trong việc tổ chức hệ thống kế toán từ việc tuân thủ các qui định về lập, xét duyệt và kiểm tra sử dụng chứng từ kế toán, ghi chép, cộng sổ chi tiết hoặc nhật kí đến kết chuyển các số phát sinh vào Sổ Cái.
Chính vì vậy trắc nghiệm công việc hướng vào hai mặt của kế toán là: mức đạt yêu cầu của thủ tục và độ tin cậy của các con số kế toán. Cũng chính vì vậy mà trắc nghiệm công việc được chia thành hai loại: trắc nghiệm mức đạt yêu cầu và trắc nghiệm độ tin cậy. + Trắc nghiệm đạt yêu cầu của công việc (compliance test of transaction) là trình tự rà soát các thủ tục quản lý hay thủ tục kế toán có liên quan đến đối tượng kiểm toán. + Trắc nghiệm độ vững chãi của công việc ( Substantive test of transaction) là trình tự rà soát thông tin về giá trị trong thực hiện kế toán.
Trong trường hợp này KTV tính toán lại số tiền và so sánh số tiền đã tính toán được với số tiền trên chứng từ kế toán và sổ sách có liên quan. - Trắc nghiệm trực tiếp số dư ( direct tests of balance) là cách thức kết hợp các phương pháp cân đối, đối chiếu logic, phân tích đối chiếu trực tiếp với kiểm kê thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ ( hoặc tổng phát sinh) ở Sổ Cái ghi vào Bảng cân đối tài sản hoặc vào Báo cáo kết quả kinh doanh 1. Đây là loại trắc nghiệm được áp dụng ở hầu hết các cuộc kiểm toán hiện nay vì nó đem lại những bằng chứng có độ tin cậy cao tuy nhiên loại trắc nghiệm này đòi hỏi chi phí lớn. - Trắc nghiệm phân tích (Analytical test) là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp các phương pháp: đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cấn đối…giữa các trị số của cùng một chỉ tiêu hoặc của các chỉ tiêu có quan hệ với nhau hoặc của bộ phận cấu thành chỉ tiêu 1.
Thủ tục này được áp dụng trong cả ba giai đoạn của cuộc kiểm toán. ------------------- 1 Giáo trình kiểm toán tài chính (2006) GS.TS Nguyễn Quang Quynh trang 21 Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 Dịch vụ viết thuê đề tài – KB Zalo/Tele 0917.2 Mục tiêu trong kiểm toán Báo cáo tài chính Với vai trò là một loại hình kiểm toán, kiểm toán tài chính thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán. Chức năng này phải được thực hiện dựa trên những bằng chứng đầy đủ và có hiệu lực với chi phí kiểm toán ít nhất. Do vậy việc xác định hệ thống mục tiêu kiểm toán khoa học trên cở sở các mối quan hệ vốn có của đối tượng và của khách thể kiểm toán sẽ giúp kiểm toán viên thực hiện đúng hướng và có hiệu quả hoạt động kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, khoản 11 xác định: “Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không. Mục tiêu kiếm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”2. Khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu như sau: - Trung thực là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Hợp lý là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực, cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người thừa nhận.
- Hợp pháp là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận). Để đạt được mục tiêu tổng quát trên thì cần cụ thể hóa hơn các yếu tố cấu thành và tiến trình thực hiện các yêu cầu trung thực, hợp lý, hợp pháp trong xác minh và bày tỏ ý kiến về toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trong từng phần hành cụ thể. Theo đó mục tiêu xác minh phải hướng tới: - Tính hiệu lực (có thực) của các thông tin với ý nghĩa các thông tin phản ánh tài sản hoặc vốn phải được đảm bảo bằng sự tồn tại thực tế của tài sản. --------------------- 2 Giáo trình kiểm toán tài chính (2006) GS.TS Nguyễn Quang Quynh trang 36 Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 Dịch vụ viết thuê đề tài – KB Zalo/Tele 0917.com - Tính đầy đủ (trọn vẹn) của thông tin với ý nghĩa thông tin phản ánh trên bảng khai tài chính không bị bỏ sót trong quá trình xử lý.
- Tính đúng đắn của việc tính giá với ý nghĩa giá tài sản cũng như giá thành đều được tính theo phương pháp kế toán là giá thực tế đơn vị phải chi ra để mua hoặc thực hiện các hoạt động. - Tính chính xác về cơ học trong các phép tính số học cũng như khi chuyển sổ, sang trang… trong công nghệ kế toán. - Tính đúng đắn trong phân loại và trình bày với ý nghĩa tuân thủ các qui định cụ thể trong phân loại tài sản và vốn cũng như các quá trình kinh doanh qua hệ thống tài khoản tổng hợp và chi tiết cùng việc phản ánh các quan hệ đối ứng để có thông tin hình thành báo cáo tài chính. - Tính đúng đắn trong việc phản ánh quyền và nghĩa vụ của đơn vị kế toán trên bảng khai tài chính với ý nghĩa: tài sản phản ánh trên bảng phải thuộc quyền sở hữu (hoặc sử dụng lâu dài) của đơn vị, vốn và công nợ phản ánh đúng nghĩa vụ tuơng ứng của đơn vị này.
Trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán cần phải đặc biệt chú ý giữa mục tiêu chung của toàn bộ bảng khai tài chính với mục tiêu kiểm toán chung cho mọi phần hành.3 Qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính Theo nguyên lý chung, trình tự kiểm toán tài chính trải qua ba giai đoạn cơ bản: Chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Tuy nhiên do đặc điểm về đối tượng, về quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán mà trình tự kiểm toán tài chính cũng có những đặc điểm riêng. Nhìn chung kiểm toán tài chính được thực hiện qua những bước cơ bản sau: Bước 1 – Chuẩn bị kiểm toán: Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, kiểm toán viên tìm hiểu về khách thể kiểm toán với mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán. Tiếp đó, kiểm toán viên cần thu thập các thông tin, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách thể kiểm toán để xây dựng kế hoạch kiểm toán.
Để thực hiện những công việc trên, các trắc nghiệm chủ yếu được thực hiện là trắc nghiệm mức đạt yêu cầu của công việc và trắc nghiệm phân tích (tổng quát). Đồng thời với công việc kiểm toán cần chuẩn bị cả phương tiện và lực lượng giúp việc cho triển khai kế hoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng. Bước 2 – Thực hiện công việc kiểm toán: Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm chủ yếu là trắc nghiệm cơ bản vào việc xác minh các thông tin phản ánh Kham thảo miễn phí – Kết bạn Zalo/Tele mình 0917.864 Dịch vụ viết thuê đề tài – KB Zalo/Tele 0917.com trên bảng khai tài chính.