phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng với nội dung cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi trong đơn vị sự nghiệp có thu. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi tại Trung tâm Y tế huyện Vân Canh. Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ các khoản thu, chi tại Trung tâm Y tế huyện Vân Canh. e 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CÁC KHOẢN THU, CHI TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1.
TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Định nghĩa và mục tiêu của kiểm soát nội bộ Trong một khoản thời gian khá dài có rất nhiều tranh luận về định nghĩa và mục tiêu của kiểm soát nội bộ. Đầu thập niên 90 của thế kỷ trƣớc, có nhiều quan điểm cho rằng kiểm soát nội bộ có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát các chu trình nghiệp vụ phát sinh trong đơn vị, giúp đơn vị tuân thủ luật lệ và các quy định. Một số quan điểm khác có ý kiến cho rằng kiểm soát nội bộ là công cụ để nhà quản lý ngăn ngừa gian lận, bao gồm cả biển thủ tài sản và trình bày trên Báo cáo tài chính.
Những quan điểm khác nhau này đƣợc thể hiện trong các công bố của các tổ chức nghề nghiệp nhƣ Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ ( IIA - Institute of Internai Auditors), Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ ( AICPA - American Institute of Certifieded Public Accountants). Định nghĩa hiện nay đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của tổ chức COSO. COSO đƣợc thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và đƣa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. COSO đã đƣa ra định nghĩa về kiểm soát nội bộ nhƣ sau: “ Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng quản e 8 trị, ngƣời quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó đƣợc thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt đƣợc các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ”.
Trong định nghĩa trên có những nội dung quan trọng đó là: quá trình, con ngƣời, đảm bảo hợp lý và các mục tiêu. * Theo định nghĩa trên thì kiểm soát nội bộ đƣợc hiểu nhƣ sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình chứ không phải là một sự kiện hay là một tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và đƣợc kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Các hoạt động của đơn vị đƣợc thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Các quá trình kiểm soát nội bộ tỏ ra hữu hiệu nhất khi nó đƣợc xây dựng nhƣ một phần cơ bản nhất trong đơn vị chứ không phải là một hoạt động bổ sung cho các hoạt động của đơn vị.
Quá trình kiểm soát là một phƣơng tiện giúp cho các đơn vị đạt đƣợc mục tiêu của mình. Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt đƣợc. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con ngƣời… Nên dẫn đến không đạt đƣợc các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhƣng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra.
Ngoài ra, một nguyên tắc cơ bản trong việc đƣa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể vƣợt quá lợi ích đƣợc mong đợi từ quá trình kiểm soát đó. Do đó, mặc dù Ngƣời quản lý có thể nhận thức đƣợc đầy đủ về các rủi ro, nhƣng vì chi phí cho quá trình kiểm soát còn quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục kiểm soát rủi ro. Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những thủ tục, chính sách mà phải bao gồm cả con ngƣời trong đơn vị nhƣ: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên. Chính con ngƣời sẽ đƣa ra các mục tiêu, biện pháp e 9 kiểm soát để vận hành nhằm đạt đƣợc các mục tiêu tối ƣu nhất.
Mỗi thành viên có một khả năng, suy nghĩ khác nhau khi làm việc, họ luôn hiểu rõ nhiệm vụ cũng nhƣ truyền đạt, trao đổi với nhau, hành động một cách nhất quán. Kiểm soát nội bộ sẽ tạo ra ý kiến của từng cá nhân, mối liên hệ chặt chẽ của bản thân với mọi ngƣời trong đơn vị và hƣớng các hoạt động của họ đạt đƣợc mục tiêu chung mà đơn vị đã đề ra. Báo cáo COSO xác định mục tiêu mà đơn vị hƣớng tới gồm có ba nhóm: Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Nhóm Mục tiêu về báo cáo, gồm các báo cáo tài chính và phi tài chính cho người bên ngoài và bên trong: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp.
Nhóm mục tiêu về tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định. Mỗi đơn vị cần có các mục tiêu kiểm soát để đạt đƣợc, từ đó xác định các chiến lƣợc cần thực hiện. Các mục tiêu trên có thể tách biệt nhƣng cũng có thể trùng lập. Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị.
Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt đƣợc các mục tiêu nêu trên. Kết quả đạt đƣợc phụ thuộc vào môi trƣờng kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin và truyền thông, vấn đề giám sát. Để đạt đƣợc mục tiêu báo cáo đáng tin cậy cần dựa trên cơ sở các chuẩn mực, các quy định đã đƣợc thiết lập. Nhƣ vậy, các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ rất rộng và có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị.2 Lợi ích của hệ thống kiểm soát nội bộ Trong quá trình hoạt động, vấn đề xung đột về quyền lợi của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động luôn tồn tại trong đơn vị.
Ngƣời lao động có thể vì quyền lợi của bản thân mà có những hành vi gian lận làm ảnh hƣởng đến lợi ích chung của đơn vị. Một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ đem lại cho đơn vị các lợi ích nhƣ: - Báo cáo tài chính đảm bảo tính chính xác và đúng theo quy định. - Giảm bớt rủi ro trong quá trình hoạt động. - Đảm bảo các thành viên tuân thủ quy trình, nội quy, quy chế hoạt động của đơn vị cũng nhƣ các quy định của pháp luật.
- Đảm bảo đơn vị hoạt động có hiệu quả và đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra. Do đó, hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh là một nhân tố của hệ thống quản trị vững mạnh và điều này vô cùng quan trọng giúp tổ chức thu hút các nguồn lực bên trong và bên ngoài. Kiểm soát nội bộ theo INTOSAI Các nghiên cứu về Kiểm soát nội bộ sau đó đƣợc phát triển mạnh, chuyên sâu vào các loại tổ chức hoặc các loại hình hoạt động khác nhau. Hƣớng dẫn về Kiểm soát nội bộ của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) đã đƣợc ban hành năm 1992 và cập nhật năm 2001, đƣa ra các quan điểm và hƣớng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công.
Tại Hoa Kỳ, Chuẩn mực về KSNB trong chính quyền liên bang đƣợc Cơ quan Kiểm toán Nhà nƣớc (GAO) ban hành năm 1999. INTOSAI đƣa ra 2 nhóm chuẩn mực về kiểm soát nộ bộ: chuẩn mực chung và chuẩn mực cụ thể. Chuẩn mực chung bao gồm các quy định về bảo đảm hợp lý; tinh thần tuân thủ; năng lực và phẩm chất; mục tiêu kiểm soát và giám sát. Chuẩn mực cụ thể đi vào các quy định về tổ chức hồ sơ, e 11 tài liệu; ghi chép kịp thời và đúng đắn các nghiệp vụ; phân chia trách nhiệm; tiếp cận và báo cáo về nhân lực và sổ sách.
Sau đây là sơ đồ mô tả các yếu tố của hệ thống KSNB theo tổ chức INTOSAI.1: Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ theo Intosai 1. Môi trường kiểm soát Môi trƣờng kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức nó chi phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức. Môi trƣờng kiểm soát là nền tảng đối với các bộ phận khác của KSNB, tạo lập kỷ cƣơng, đạo đức và cơ cấu cho tổ chức. Các nhân tố trong môi trƣờng kiểm soát bao gồm: * Sự liêm chính và giá trị đạo đức của cấp lãnh đạo và đội ngũ nhân viên.
Sự liêm chính và các giá trị đạo đức là nhân tố quan trọng của môi trƣờng kiểm soát, tác động đến việc thiết kế, thực hiện và giám sát các nhân tố khác của KSNB. Các giá trị đạo đức chính là văn hóa của tổ chức là những quy tắc ứng xử của cán bộ công chức, những chuẩn mực đạo đức mà cấp quản lý mong muốn xây dựng nhà nƣớc nhằm hạn chế những hành vi gian lận, tham nhũng… Ảnh hƣởng xấu đến tổ chức. Để đạt đƣợc điều này, cấp quản lý trƣớc tiên phải làm gƣơng cho cấp dƣới về việc tuân thủ các điều lệ, các quy định về cách ứng xử của cán bộ viên chức và cần phải e 12 phổ biến những quy định này đến mọi thành viên bằng các hình thức thích hợp. Đồng thời, các đơn vị thuộc khu vực công phải cho công chúng thấy đƣợc tinh thần nhân văn và các giá trị đạo đức trong nhiệm vụ và sứ mạng của mình thông qua các văn bản chính thức.
* Năng lực của đội ngũ nhân viên trong tổ chức. Năng lực của đội ngũ nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cƣơng, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và hữu hiệu, cũng nhƣ có một sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ thống KSNB. Đảm bảo về năng lực là đảm bảo cho các thành viên trong tổ chức có đƣợc những kiến thức và kỹ năng cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.