CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CÁC KHOẢN THU CHI TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KSNB TRONG ĐƠN VỊ 1 1 1 Tổn qu n về ểm soát tron quản lý a. Khái niệm về kiểm tra, kiểm soát Kiểm tra là việc soát xét để đánh giá, phân loại, điều chỉnh các mục tiêu, định hướng. Kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch.
Kiểm soát là những phương pháp và chính sách được thiết kế để ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động, và nhằm đạt được sự tuân thủ các chính sách và quy trình được thiết lập. [15, tr 20] Kiểm soát trong quản lý là việc thực hiện đối chiếu kết quả đạt được với những quy phạm, quy định chung với kế hoạch để từ đó đánh giá, điều chỉnh làm cho quá trình tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý có hiệu quả, hiệu lực hơn nhằm đạt mục tiêu định trước. Kiểm tra, kiểm soát là chức năng cơ bản của quản lý, nó hòa vào tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra, quản lý thay đổi thì kiểm tra cũng thay đổi theo. Cụ thể như sau: - Giai đoạn lập kế hoạch: Kiểm tra hướng vào việc xem xét tính khả thi của dự án có phù hợp với nguồn lực sẵn có hay không, nếu không phù hợp sẽ xây dựng một kế hoạch khác.
- Giai đoạn tổ chức thực hiện: Kiểm tra khả năng và sự phù hợp của các bộ phận có liên quan ở giai đoạn này cũng có thể xây dựng lại một kế hoạch mới. 8 - Giai đoạn chỉ đạo thực hiện: Kiểm tra việc thực hiện của các bộ phận có theo kế hoạch đặt ra hay không. Bản chất và vai trò của kiểm soát trong quản lý Trong quan hệ với tổ chức bộ máy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực đã xác định để đạt mục tiêu đã đề ra. Chủ thể quản lý ở đây chính là bộ máy quản lý của đơn vị, bao gồm cán bộ lãnh đạo các cấp và bộ phận cán bộ chuyên môn thực thi các nghiệp vụ quản lý, điều hành đơn vị.
Đối tượng quản lý chính là con người và sự vật, hiện tượng diễn ra trong đơn vị. Đối tượng quản lý có nhiều đặc tính khác nhau do đó trong quá trình quản lý cũng phát sinh những vấn đề phức tạp ở mức độ khác nhau. Mục tiêu quản lý của đơn vị là sau một quá trình quản lý có thể đo lường và lượng hóa được kết quả mà đơn vị phải hướng tới trong một thời gian nhất định. Toàn bộ quá trình quản lý bao gồm 2 khâu chính: khâu định hướng và khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định.
Ở mỗi khâu, chức năng kiểm soát luôn được đề cao bởi nó cho biết mức độ sát thực của quản lý. Để đạt được kế hoạch đã đề ra, khâu tổ chức thực hiện cần phải được coi trọng trong toàn bộ quá trình quản lý. Tổ chức thực hiện ở đây bao gồm: từ việc áp dụng những chủ trương, trình tự đã được định hướng tới việc sử dụng hiệu quả những nguồn lực đã có. Trong khâu này người quản lý phải vận dụng các kỹ năng điều hành của mình để quản lý, chỉ đạo phối hợp các bộ phận.
Kết quả hoàn thành được báo cáo và so sánh với các mục tiêu đã đặt ra trong kế hoạch. Từ kết quả này, người quản lý có thể kiểm tra, đánh giá và điều hành các hoạt động một cách phù hợp nhằm đạt mục tiêu đề ra một cách tốt nhất. Ở khâu định hướng cần có những dự báo về nguồn lực và mục tiêu đồng thời kiểm tra lại các thông tin về nguồn lực và mục tiêu đó, xây dựng các 9 chương trình, kế hoạch … Sau khi các chương trình kế hoạch đã được kiểm soát thì có thể đưa ra các quyết định cụ thể để thực hiện. Ở khâu tổ chức thực hiện những hướng đã định cần kết hợp các nguồn lực theo phương án tối ưu, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát diễn biến và kết quả của các quá trình để điều hòa các mối quan hệ, điều chỉnh các mục tiêu nhằm đạt kết quả tối ưu.
Như vậy, kiểm soát là một quy trình giám sát các hoạt động để đảm bảo rằng các hoạt động này được thực hiện theo kế hoạch. Quy trình này bao gồm 3 bước khác nhau: đo lường thành quả lao động, so sánh thành quả thực tế với một chuẩn mực nào đó và có hành động để chỉnh sửa các sai lệch hoặc các chuẩn mực không phù hợp. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu bảo đảm rằng mọi hoạt động được hoàn tất theo những cách thức đưa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Theo định nghĩa này, kiểm soát không phải là một giai đoạn hay một khâu của quá trình quản lý mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý.
Vì vậy có thể hiểu kiểm soát là một chức năng của quản lý. Tuy nhiên, chức năng này cũng thể hiện rất khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế và cấp quản lý, vào loại hình hoạt động cụ thể, vào truyền thống văn hóa cũng như những điều kiện kinh tế xã hội khác của mỗi nơi trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể. Trong một chu trình quản lý của bất kỳ một tổ chức nào thì chức năng kiểm soát luôn tồn tại và chiếm một vị trí quan trọng trong quy trình quản lý, công việc này được thực hiện bởi một công cụ chủ yếu đó là hệ thống kiểm soát nội bộ (Internal control system) của đơn vị. Có nhiều quan niệm và định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ song có thể kể đến một vài định nghĩa sau: - Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các quy định về tổ chức quản lý, chức năng, nhiệm vụ, phương pháp công tác mà một đơn vị phải tuân theo.
10 - Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách và thủ tục do Ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằm đảm bảo việc quản lý chặt chẽ và sự hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể. Các thủ tục này đòi hỏi việc tuân thủ của chính sách quản lý, bảo quản tài sản, ngăn ngừa và phát hiện sai sót hay gian lận, tính chính xác và đầy đủ của các ghi chép kế toán và đảm bảo lập các báo cáo trong thời gian mong muốn (Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 400). - Kiểm soát nội bộ theo định nghĩa của COSO ( Committee of Sponsoring Organizations of Treadway Commiission tạm dịch là Uỷ ban của tổ chức tài trợ) có thể được xem định nghĩa thể hiện đầy đủ nhất và chính xác nhất về kiểm soát nội bộ: Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các cá nhân khác của một tổ chức, được thiết kế để cung cấp mọi sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiện các mục tiêu sau: Báo cáo tài chính đáng tin cậy; Các luật lệ và quy định được tuân thủ; Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. [16, tr 10] -Theo Liên đoàn kế toán Quốc tế (The International Federation of Accountants – IFAC), hệ thống kiểm soát nội bộ là một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm 4 mục tiêu sau: Bảo vệ tài sản của đơn vị; Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin; Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý; Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý.[16, tr 10] Theo đó kiểm soát nội bộ là một chức năng thường xuyên của đơn vị, tổ chức và trên cơ sở xác định rủi ro có thể xảy ra trong từng khâu công việc để tìm ra biện pháp ngăn chặn nhằm thực hiện hiệu quả tất cả các mục tiêu của đơn vị.
Kiểm soát được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong quá trình quản lý và nó luôn đóng một vai trò quan trọng trong toàn bộ quá trình quản lý của tổ chức đó, đó chính là việc thiết lập các mục tiêu cần đạt đến, từ đó thiết kế nên 11 những hoạt động và thủ tục để nắm bắt và điều hành hoạt động của đơn vị nhằm thực hiện mục tiêu đã định. Mỗi tổ chức có những đặc điểm riêng, nên trong quá trình quản lý cũng có những phương pháp kiểm soát khác nhau, quản lý là việc lập kế hoạch và xây dựng những mục tiêu cụ thể, tổ chức thực hiện những kế hoạch đã lập trên cơ sở nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được mục tiêu đã xác định nhằm đạt hiệu quả cao. Kiểm soát có mối quan hệ mật thiết với quá trình quản lý qua các giai đoạn: * Lập kế hoạch: Là đưa ra mục tiêu tổng thể và mục tiêu bộ phận cho hoạt động của đơn vị. Những mục tiêu tổng thể và bộ phận này cung cấp những luận điểm hỗ trợ và những căn cứ cho hoạt động kiểm soát.
Tính hiệu quả của kiểm soát phụ thuộc vào tính đầy đủ và hiệu quả của lập kế hoạch. * Tổ chức thực hiện: Ở giai đoạn này là tổ chức phân chia công việc cho nhiều bộ phận, kết hợp các bộ phận đó với nhau trong quá trình thực hiện để đạt được mục tiêu của tổ chức. Thông qua giai đoạn này việc kiểm soát được phân chia, uỷ quyền một cách cụ thể cho các bộ phận. Với cách nhìn nhận này, tổ chức tạo lập tiến trình cho kiểm soát.
* Huy động nguồn lực: Bao gồm các công việc mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, nhân sự … quá trình này phải được kiểm soát nhằm xác định việc cung cấp các nguồn lực là có thật. * Điều hành hoạt động: Là việc ra chỉ thị, giám sát nhân viên, làm việc với nhân viên, phối hợp và chỉ đạo công việc. Trong giai đoạn này phải có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên về diễn biến và kết quả thực hiện kế hoạch, dự kiến những hành động cần thiết để đảm bảo vẫn đạt được mục tiêu đã xác định với hiệu quả cao, ngay cả khi có những thay đổi trong quá trình thực hiện. 12 Từ đó thấy rằng qui trình kiểm tra kiểm soát là một chức năng không thể thiếu được trong quá trình quản lý, giúp cho người quản lý nhìn thấy những bất cập trong đơn vị để từ đó tiến hành điều chỉnh cho phù hợp.