phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán thu và thoái thu BHXH Chƣơng 2: Thực trạng kế toán thu và thoái thu BHXH tại BHXH huyện An Lão tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán thu và thoái thu BHXH tại BHXH huyện An Lão tỉnh Bình Định 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THU VÀ THOÁI THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát chung về Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm về BHXH, BHYT, BHTN 1.
Bảo hiểm xã hội Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết. Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết”. Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cuối cùng của bảo hiểm xã hội là hƣớng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi ngƣời.
Theo luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tại khoản 1 điều 3 “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của ngƣời lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Bảo hiểm y tế Căn cứ Điều 2, Luật BHYT số 01/VBHN-VPQH quy định chi tiết về khái niệm bảo hiểm y tế là là hình thức bảo hiểm bắt buộc đƣợc áp dụng đối với các đối tƣợng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện. Có thể nói BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội tốt nhất hiện nay cho ngƣời lao động khi thực hiện khám chữa bệnh. Đối tƣợng bắt buộc phải mua BHYT: Căn cứ Chƣơng I, Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết về nhóm 06 đối tƣợng tham gia BHYT bao gồm: Nhóm do ngƣời lao động và ngƣời sử 7 dụng lao động đóng; Nhóm do cơ quan BHXH đóng; Nhóm do ngân sách Nhà nƣớc đóng; Nhóm đƣợc ngân sách Nhà nƣớc hỗ trợ mức đóng; Nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình; Nhóm do ngƣời sử dụng lao động đóng.
Mức đóng BHYT Căn cứ theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014, Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định chi tiết về mức đóng bảo hiểm y tế bao gồm: + Mức đóng BHYT thuộc nhóm 3 đối tƣợng Đối với 3 nhóm đối tƣợng do ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động đóng, nhóm do Quỹ bảo hiểm xã hội đóng và nhóm do ngân sách Nhà nƣớc đóng thì mức đóng BHYT là 4,5% tiền lƣơng tháng làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN hàng tháng. + Mức đóng nhóm hộ gia đình Ngƣời thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lƣơng cơ sở; Ngƣời thứ 2 đóng bằng 70% mức đóng của ngƣời thứ nhất; Ngƣời thứ 3 đóng bằng 60% mức đóng của ngƣời thứ nhất; Ngƣời thứ 4 đóng bằng 70% mức đóng của ngƣời thứ nhất; Từ ngƣời thứ 5 trở đi đóng bằng 40% mức đóng của ngƣời thứ nhất. + Lƣu ý nhóm do Ngân sách nhà nƣớc đóng: Ngƣời thuộc hộ gia đình cận nghèo: Mức hỗ trợ tối thiểu là 70% tháng lƣơng cơ sở; Học sinh, sinh viên: Mức hỗ trợ tối thiểu là 30% TLCS. Hộ gia đình làm nông, lâm, ngƣ, diêm, nghiệp có mức thu nhập trung bình: Mức hỗ trợ tối thiểu là 50% TLCS.
Bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, có mục đích hỗ trợ thu nhập cho ngƣời lao động bị mất thu nhập do thất nghiệp. Để đƣợc hƣởng trợ cấp thất nghiệp, ngƣời lao động phải đang tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong khoảng thời gian 24 tháng trƣớc khi bị thất nghiệp. Trong thời gian 3 tháng kể từ ngày thất 8 nghiệp, ngƣời lao động phải nộp hồ sơ đề nghị hƣởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm dịch vụ việc làm. Ngƣời đƣợc hƣởng bảo hiểm thất nghiệp phải chƣa tìm đƣợc việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp.Về thời gian đƣợc hƣởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian ngƣời lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Mức hƣởng trợ cấp thất nghiệp bằng 60% mức bình quân tiền lƣơng tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trƣớc khi thất nghiệp. Ngƣời đang hƣởng trợ cấp thất nghiệp đƣợc hƣởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Bản chất của BHXH Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trƣờng, mối quan hệ thuê mƣớn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.
BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. - Bản chất kinh tế của BHXH Bản chất kinh tế của BHXH thể hiện ở chỗ những ngƣời tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này không ảnh hƣởng lớn đến đời sống và sản xuất kinh doanh của cá nhân hoặc đơn vị) để lập một quỹ dự trữ. Các khoản đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nƣớc. Mục đích của việc hình thành quỹ BHXH để trợ cấp cho những NLĐ khi gặp rủi ro, tránh đƣợc những hụt hẫng về thu nhập cho họ.
Sự hỗ trợ này đƣợc lấy từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm đƣợc chi NSNN. Đồng thời, bản chất kinh tế còn đƣợc thể hiện ở chỗ, NLĐ chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình, nhƣng do nhiều nguồn hình thành khác có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu đƣợc thanh toán. Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”. Do tính đặc 9 thù giữa thời gian khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian khoản chi trả trợ cấp BHXH cho những ngƣời hƣởng chế độ không trùng nhau, đã tạo cho quỹ BHXH có nguồn tiền tạm thời “nhàn rỗi”.
Khoản tiền tạm thời “nhàn rỗi” đƣợc sử dụng cho hoạt động đầu tƣ sinh lời bảo tồn giá trị cho quỹ BHXH. Quỹ BHXH đƣợc đặc trƣng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng, đƣợc phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối lại thu nhập các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia tạo lập và sử dụng quỹ BHXH. Những luận cứ trên đây đã chứng minh rằng bên cạnh mục tiêu hoạt động BHXH là an toàn xã hội về kinh tế cho mọi ngƣời trong cộng đồng, thì BHXH còn là một hình thức huy động vốn. Và với sức mạnh về tài chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nƣớc, BHXH sẽ góp phần ổn định tài chính, tiền tệ quốc gia.
- Bản chất xã hội của BHXH BHXH thuộc phạm vi hệ thống chính sách xã hội, nó liên quan đến lợi ích của mọi ngƣời dân trong xã hội. Thể hiện ở chỗ quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm trong nƣớc đƣợc xã hội tổ chức, quản lý, bảo tồn và phân phối lại thu nhập. BHXH còn là công cụ cải thiện điều kiện sống của mọi tầng lớp dân cƣ, đặc biệt là NLĐ. Những hụt hẫng và biến cố về thu nhập trong các trƣờng hợp ốm đau, tai nạn làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc khi già yếu trở thành mối đe dọa cuộc sống bình thƣờng của NLĐ.
Để khắc phục tình trạng này, với truyền thống “lá lành đùm lá rách”, tinh thần “tƣơng thân tƣơng ái” trong nhân dân đƣợc phát huy dƣới các hình thức đóng góp của Nhà nƣớc, NSDLĐ và NLĐ khi họ còn khỏe mạnh, còn có thu nhập, để dùng vào lúc tuổi già, lúc ốm đau. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra đƣợc sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội. Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất có 10 hiệu quả, tạo đƣợc thêm nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con ngƣời nhƣ y tế, giáo dục, văn hoá. Nhƣ vậy, thực tế cho thấy BHXH là công cụ quan trọng và hiệu quả để tạo nên một mạng lƣới an toàn cho con ngƣời, hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Vai trò của BHXH trong nền kinh tế xã hội 1. Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội Về bản chất kinh tế có thể khẳng định ngay BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận, nhƣng lại là công cụ thực hiện phân phối lại thu nhập. BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi đƣợc hƣởng trong BHXH thông qua hoạt động của mình. BHXH tham gia vào việc phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa những NLĐ thế hệ trƣớc với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những ngƣời thu nhập cao và ngƣời có thu nhập thấp, giữa những ngƣời may mắn và không may mắn.
Vì vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. Chính sách BHXH công bằng, hợp lý, tiến bộ sẽ tạo ra động lực để thực hiện tốt chính sách kinh tế, giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Dù trong điều kiện nào, với hình thức nào, BHXH cũng lấy mục tiêu an sinh xã hội làm căn bản. Hệ thống BHXH đƣợc mở rộng góp phần giảm bớt những đối tƣợng cần trợ giúp xã hội.
Và nhƣ vậy gánh nặng của Ngân sách, của các quỹ công cộng và của cộng đồng sẽ nhẹ bớt. Điều này cũng có nghĩa là hệ thống an sinh xã hội quốc gia càng đảm bảo và phát triển.