phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận chung về kế toán hoạt động thu, chi BHYT trong cơ quan BHXH. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán hoạt động thu, chi BHYT tại BHXH thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán hoạt động thu, chi BHYT tại BHXH thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. e 6 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG THU, CHI BẢO HIỂM Y TẾ TRONG CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM Y TẾ 1. Các khái niệm liên quan Bảo hiểm y tế BHYT là bộ phận cấu thành của pháp luật về ASXH, BHYT là hình thức bảo hiểm đƣợc áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và là một trong chín nội dung của BHXH đƣợc quy định tại Công ƣớc 102 ngày 28/06/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế về tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH. [19] BHYT là một nhóm ngƣời đóng góp tài chính vào quỹ chung, thông thƣờng do bên thứ ba giữ. Nguồn quỹ này sau đó sẽ đƣợc sử dụng thanh toán cho toàn bộ hoặc một phần các chi phí nằm trong phạm vi quyền lợi của ngƣời tham gia BHYT.
Khái niệm về BHYT cũng đƣợc trình bày trong cuốn từ điển Bách khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995 - Nhà xuất bản từ điển Bách khoa - trang 151 có định nghĩa nhƣ sau: “BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”. [12] Theo khoản 1 Điều 2 Luật BHYT năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014: BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc đƣợc áp dụng đối với các đối tƣợng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện. [17] BHYT là chính sách xã hội mang ý nghĩa nhân văn, có tính chia sẻ cộng đồng, không vì lợi nhuận mà vì mục tiêu ASXH. Đó là sự chia sẻ mang tính cộng đồng giữa các thành viên trong xã hội, còn thể hiện sự liên kết, chia e 7 sẻ giữa các thành viên trong xã hội qua đóng góp trên thu nhập.
Thực tế cho thấy, từ năm những đầu thực hiện chính sách BHYT cho đến nay đã và đang từng bƣớc thay thế cơ chế bao cấp trong khám bệnh, chữa bệnh bằng việc nhà nƣớc tăng đầu tƣ ngân sách để hỗ trợ cho ngƣời dân, đồng thời huy động nguồn lực từ xã hội, ngƣời dân và cộng đồng tham gia BHYT. Ngƣời tham gia BHYT đƣợc hƣởng các dịch vụ kỹ thuật khám chữa bệnh y tế hiện đại, chất lƣợng tốt hơn, đƣợc cung ứng thuốc khám chữa bệnh đạt theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Hàng triệu lƣợt ngƣời đã vƣợt qua ốm đau và các căn bệnh mãn tính, nan y, hiểm nghèo nhờ chính sách BHYT. Quỹ BHYT đang dần trở thành nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động của các bệnh viện, góp phần giảm mức chi trả từ tiền túi của ngƣời bệnh cho công tác chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh.
Đồng thời cũng đã tạo ra thêm nguồn tài chính đáng kể cho những ngƣời làm công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân góp phần thực hiện mục tiêu công bằng, đảm bảo ASXH. BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc đƣợc áp dụng đối với các đối tƣợng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện. Bản chất và chức năng của Bảo hiểm y tế BHYT là một trong những chính sách ASXH quan trọng, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, thể hiện sự tƣơng thân tƣơng ái, chia sẻ rủi ro giữa ngƣời khỏe với ngƣời ốm, giữa ngƣời trẻ với ngƣời già, giữa ngƣời có thu nhập cao với ngƣời có thu nhập thấp. BHYT là hình thức bảo hiểm để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nƣớc tổ chức thực hiện và toàn dân tham gia, để bảo vệ sức khỏe cho mỗi ngƣời khi ốm đau, tai nạn.
Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc nhằm hƣớng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, góp phần đảm bảo ASXH cho mọi ngƣời dân. BHYT mang lại rất nhiều lợi ích cho ngƣời dân, nhất là các gia đình có e 8 mức thu nhập thấp khi ốm đau. BHYT chi trả phần lớn chi phí khám bệnh, chữa bệnh, thuốc và chăm sóc cho ngƣời có thẻ khi khám bệnh, chữa bệnh theo đúng tuyến. Tham gia BHYT là cách đóng góp khi lành, để dành khi ốm.
Tham gia BHYT không chỉ đƣợc hỗ về chi phí khám chữa bệnh mà ngay từ khi mua thẻ ngƣời dân đã đƣợc hỗ trợ kinh phí để mua thẻ bảo hiểm. Việc hỗ trợ BHYT cho ngƣời dân là một chính sách xã hội quan trọng, thể hiện tính nhân văn của Đảng và Nhà nƣớc ta nhằm mục đích hỗ trợ cho toàn dân đƣợc tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe kỹ thuật cao, phát hiện bệnh tật kịp thời, tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh, nhất là trong bối cảnh giá các dịch vụ y tế đƣợc điều chỉnh theo hƣớng tăng cao nhƣ hiện nay. Đây là chính sách xã hội nhằm hƣớng tới việc thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân. @ BHYT có những chức năng cơ bản sau:[2,6] - Phục vụ, bảo vệ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của ngƣời tham gia.
Đây là chức năng cơ bản nhất của BHYT. - BHYT giúp ngƣời tham gia chi trả một phần chi phí khám chữa bệnh, giúp giảm gánh nặng về chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi ốm đau, tai nạn. - Góp phần chia sẻ rủi ro, phát huy tinh thần “lá lành đùm lá rách” giữa những ngƣời tham gia. Vai trò của Bảo hiểm y tế BHYT là một trong những chính sách ASXH quan trọng, BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ, các tổ chức và cá nhân, từ đó hình thành nên một quỹ và quỹ này sẽ đƣợc dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh, khi họ không may mắc phải bệnh tật mà họ có tham gia BHYT.
Mặc dù ở mỗi nƣớc khác nhau thì sẽ có các hình thức tổ chức khác nhau, có nƣớc tổ chức độc lập với loại hình bảo hiểm khác, có nƣớc lại xem đây là một trong những chế độ của BHXH. Ở nƣớc ta BHYT đã xác nhập vào BHXH kể từ ngày 24/01/2002. e 9 Nhƣng mặc dù đƣợc tổ chức nhƣ thế nào đi chăng nữa thì BHYT vẫn có một số vai tr riêng biệt nhƣ sau: Một là, BHYT giúp cho ngƣời tham gia BHYT khắc phục khó khăn cũng nhƣ ổn định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau, bệnh tật. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của nhân dân đƣợc cải thiện thì nhu cầu khám chữa bệnh (KCB), chăm sóc sức khỏe cũng ngày một tăng.
Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y tế đã nâng cao chất lƣợng dịch vụ y tế lên rất nhiều trong những năm qua nhƣng cũng đ i hỏi ngƣời thụ hƣởng phải trả mức phí cao hơn. Vì thế, chi phí khám chữa bệnh luôn là nỗi lo không nhỏ của nhiều ngƣời, ngay cả những ngƣời có thu nhập thuộc loại khá của xã hội. Nhờ có BHYT, ngƣời dân sẽ an tâm đƣợc phần nào về sức khỏe cũng nhƣ kinh tế, bởi vì họ đã có một phần nhƣ là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khỏe. Nhƣ vậy, BHYT ra đời có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định đƣợc cuộc sống cho mọi ngƣời, tạo cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống, từ đó giúp cho họ yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân và sau đó là cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển kinh tế và xã hội của đất nƣớc.
Hai là, BHYT góp phần thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, thể hiện rõ n t tính nhân đạo, cộng đồng sâu sắc và đƣợc xã hội hóa theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít. Những ngƣời tham gia BHYT, dù ở địa vị, hoàn cảnh nào, mức đóng là bao nhiêu, khi ốm đau cũng nhận đƣợc sự chăm sóc y tế bình đẳng nhƣ nhau, xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo khi hƣởng thụ chế độ khám chữa bệnh. Với BHYT, mọi ngƣời sẽ đƣợc bình đẳng hơn, đƣợc điều trị theo bệnh, đây là đặc trƣng ƣu việt của BHYT. Ba là, BHYT làm tăng chất lƣợng KCB và quản lý y tế thông qua hoạt động quỹ BHYT đầu tƣ.
BHYT là một trong những nguồn cung cấp tài chính ổn định cho các cơ sở y tế (CSYT). Ở Việt Nam trong những năm qua, nguồn e 10 thu viện phí do quỹ BHYT thanh toán chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn chi thƣờng xuyên của các CSYT. Nguồn thu này đã góp phần cho các CSYT chủ động trong việc chăm sóc ngƣời bệnh, nâng cao chất lƣợng y tế. Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có điều kiện nâng cấp các cơ sở KCB đƣợc thuận lợi.
Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ đƣợc đào tạo tốt hơn, các y bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm, có trách nhiệm đối với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong KCB. Bốn là, BHYT c n góp phần đề ph ng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo phƣơng châm “Ph ng bệnh hơn chữa bệnh”. Với sự kết hợp với các cơ sở KCB BHYT kiểm tra sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho đại đa số những ngƣời tham gia BHYT, từ đó nhanh chóng phát hiện những căn bệnh hiểm nghèo và có phƣơng pháp chữa trị kịp thời, tránh đƣợc những hậu quả xấu. Nếu không tham gia BHYT tâm lý con ngƣời thƣờng sợ tốn k m viện phí khi đi bệnh viện, do đó mà xem thƣờng hoặc bỏ qua những căn bệnh nguy hiểm.
Năm là, BHYT ra đời c n góp phần giáo dục cho mọi ngƣời dân trong xã hội về tính nhân đạo 'lá lành đùm lá rách', đặc biệt là giúp giáo dục cho trẻ em ngay từ khi c n nhỏ tuổi về tính cộng động thông qua loại hình BHYT học sinh sinh viên. Sáu là, BHYT góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trƣơng xã hội hoá lĩnh vực y tế, đổi mới cơ chế quản lý y tế.