Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây dựng. Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng và TM Xuân Hưng. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần xây dựng và TM Xuân Hưng. 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 1.
Khái niệm về kế toán quản trị chi phí Kế toán là một bộ phận của hoạt động quản lý trong doanh nghiệp, với chức năng xử lý và cung cấp thông tin cho đơn vị và các bên liên quan trong quá trình hoạt động. Luật kế toán (2015) đã đề cập về kế toán như sau: Kế toán là việc thu thập, xử lý; kiểm tra; phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động [11]. Như vậy, kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung và các đơn vị trong nền kinh tế nói riêng. Xét ở các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin kế toán cung cấp cho 2 đối tượng cơ bản, bao gồm các đối tượng bên ngoài tổ chức như các nhà đầu tư, cơ quan thuế, khách hàng, cổ đông, ngân hàng., và các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp như Ban giám đốc và lãnh đạo các bộ phận trong tổ chức.
Thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài chính xác định “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa chi phí với sản lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;. nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế”. [1] Thông tin kế toán của một tổ chức có vai trò quan trọng đối với cả bên trong và bên ngoài tổ chức: Các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài cần thông tin về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của tổ chức một cách tổng quát. Còn các nhà quản trị bên trong tổ chức cần thông tin mang tính chi tiết cụ thể nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động, kiểm soát và hoạch định.
Do đó kế toán được chia thành hai phân hệ: Kế toán tài chính cung cấp thông tin cho đối tượng bên ngoài đơn vị và kế toán quản trị cung cấp thông tin cho đối tượng bên trong đơn vị. Tuy nhiên, có thể định nghĩa đầy đủ về KTQT như sau: Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà 4 quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị [5]. Kế toán quản trị là cung cấp thông tin giúp cho nhà quản trị đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động của một tổ chức.
Còn kế toán tài chính là cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư, cơ quan thuế, ngân hàng, cổ đông, nhà cung cấp,.Với mục đích khác nhau nên nội dung của kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng có nhiều điểm khác nhau. Thông tin của kế toán tài chính thường phản ánh quá khứ tuân theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn. Còn thông tin của KTQT thường hướng về tương lai, hiện tại và rất linh hoạt. Kế toán quản trị không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về quá trình hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngoài tổ chức.
Kỳ của báo cáo tài chính thường theo chế độ quy định. Còn kế toán quản trị kỳ báo cáo phụ thuộc vào yêu cầu quản trị nội bộ. Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp đó là lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định. Kế toán quản trị chi phí là việc sử dụng kết hợp các yếu tố chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị doanh nghiệp để ra các quyết định phù hợp [14].
Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị doanh nghiệp. Chi phí có thể là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định và cũng có thể là chi phí ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác. Vai trò của kế toán quản trị chi phí trong DN xây lắp 1. Các chức năng quản trị doanh nghiệp Chức năng cơ bản của nhà quản trị ở bất kỳ tổ chức nào là: Hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định.
Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Để hoạch định và xây dựng các kế hoạch, nhà quản trị phải dự đoán nhằm tiên liệu được trước mục tiêu, phương pháp, thủ tục trên cơ sở khoa học. Trong công việc này nhà quản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng nguồn lực sẵn có. 5 Tổ chức thực hiện bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó.
Tổ chức thực hiện còn là sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố trong quá trình sản xuất và vai trò của các nhà quản trị doanh nghiệp để thực hiện các khâu công việc theo như kế hoạch đã đề ra nhằm để đạt được mục tiêu của quá trình kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu tối ưu. Chức năng kiểm soát và đánh giá của quản trị: Căn cứ vào các chỉ tiêu của kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp. Thông qua đó để đánh giá và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo.Thực chất là so sánh thấy được sự khác nhau giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thực hiện đến từng người, từng bộ phận nhằm cho các tổ chức hoạt động đạt các mục tiêu tối ưu. Chức năng ra quyết định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của doanh nghiệp.
Ra quyết định tự thân nó không là chức năng riêng mà trong quá trình thực hiện các chức năng đều đòi hỏi phải ra quyết định.Thực hiện chức năng này đòi hỏi nhà quản lý cần lùa chọn một giải pháp hợp lý nhất trong số các giải pháp đề xuất [13]. Lập kế hoạch Đánh giá Ra quyết định Thực hiện Kiểm tra Sơ đồ 1.1: Các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp (Nguồn: [11]) 1. Vai trò của kế toán quản trị chi phí Để làm tốt chức năng quản lí, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết để có thể ra các quyết định đúng đắn. Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu cung cấp 6 nhu cầu thông tin đó.
Vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện trong các khâu của quá trình quản lí được thể hiện cụ thể như sau [8]: * Trong giai đoạn lập kế hoạch Kế toán quản trị chi phí cụ thể hóa các mục tiêu trong kế hoạch thành các dự toán chi phí sản xuất kinh doanh. Kế toán quản trị chi phí cũng cung cấp thông tin về chi phí ước tính để phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị, do thông tin mà nhà quản trị cần là linh hoạt chứ không thể dựa vào chi phí thực tế phát sinh được. Ví dụ trong trường hợp doanh nghiệp cần có những quyết định mang tính tác nghiệp khi doanh nghiệp phải chào giá đấu thầu hay quyết định nhanh về chấp nhận các đơn chào hàng từ khách hàng. * Trong giai đoạn tổ chức thực hiện Để thực hiện tốt chức năng này, nhà quản trị cũng phải có nhu cầu rất lớn đối với các thông tin kế toán quản trị chi phí, cụ thể nhà quản trị cần được kế toán cung cấp thông tin để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn trong quá trình điều hành, như: các quyết định loại bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định tự sản xuất hay mua ngoài; quyết định nên bán nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến… * Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá Kế toán quản trị chi phí cung cấp các báo cáo hoạt động giúp ích cho nhà quản trị kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch, kiểm soát chi phí và đạt được hiệu quả kinh doanh tối ưu.
Các báo cáo về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp về các sản phẩm, dịch vụ hoặc các hoạt động giúp ích cho nhà quản trị quyết định lựa chọn kinh doanh sản phẩm, dịch vụ hoặc hoạt động nào mang lại lợi nhuận. Các báo cáo so sánh kết quả thực hiện với dù kiến về doanh thu, chi phí, lợi nhuận là căn cứ để đánh giá hiệu quả của hoạt động quản lý, giúp ích cho nhà quản trị tự cố gắng hơn nữa trong việc thực hiện công việc quản lý của mình. Trên thực tế các nhà quản trị thừa hành thường đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của họ thông qua các báo cáo kế toán quản trị tương ứng với phần hành mà nhà quản trị đó kiểm soát. * Trong khâu ra quyết định Phần lớn thông tin do kế toán quản trị chi phí cung cấp nhằm giúp các nhà 7 quản trị ra quyết định.