Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Bia Hà Nội – Kim Bài Chương 4: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty Cổ Phần Bia Hà Nội – Kim Bài 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP 2. Khái quát chung về kế toán nguyên vật liệu [1],[2],[5],[6],[8],[11] 2. Khái niệm và đặc điểm nguyên vật liệu 2. Khái niệm nguyên vật liệu Để tiến hành sản xuất, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có đủ ba yếu tố cơ bản: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động.
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động, chịu tác động của con người thông qua tư liệu lao động trở thành sản phẩm, hàng hoá đáp ứng nhu cầu con người. Nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào không thể thiếu của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Xét về mặt vật chất, nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, còn về mặt giá trị, nó tạo nên một phần không nhỏ giá trị của sản phẩm, hàng hoá khi đem ra trao đổi hoặc sử dụng. Như vậy nguyên vật liệu có vai trò rất quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu được cung cấp đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng, đúng quy cách, chủng loại, giá cả hợp lý là một trong những điều kiện tiên quyết để quá trình sản xuất diễn ra bình thường, và có hiệu quả. Đặc điểm nguyên vật liệu Tất cả mọi vật trong thiên nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích của con người gọi là đối tượng lao động. Đối tượng lao động được chia thành hai loại: Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên, là đối tượng của ngành công nghiệp khai thác, được gọi là nguyên liệu; loại thứ hai là những đối tượng đã qua chế biến (đã có sự tác động trực tiếp của lao động) được gọi là vật liệu. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, nguyên vật liệu tạo nên thực thể sản phẩm, nhưng không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới tạo ra hoặc chi phí kinh doanh trong kỳ. Phân loại nguyên vật liệu và tính giá nguyên vật liệu 2. Phân loại nguyên vật liệu Trong các doanh nghiệp, nguyên vật liệu rất đa dạng và phong phú, mỗi loại có vai trò công dụng và tính năng lý hoá khác nhau. Vì vậy để quản lý nguyên vật liệu một cách có hiệu quả, các doanh nghiệp tiến hành phân loại nguyên vật liệu.
Phân loại nguyên vật liệu là việc chia nguyên vật liệu thành các loại , các nhóm, các thứ theo tiêu thức phân loại nhất định. Tuỳ theo yêu cầu quản lý nguyên vật liệu mà từng doanh nghiệp thực hiện phân loại theo các cách khác nhau. Phân loại theo công dụng của nguyên vật liệu bao gồm: Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu, là những loại nguyên liệu và vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất thì cấu thành nên thực thể vật chất, thực thể chính của sản phẩm. “ Nguyên liệu” là thuật ngữ để chỉ đối tượng lao động chưa qua chế biến công nghiệp, “vật liệu” dùng để chỉ những nguyên liệu đã qua sơ chế.
Vật liệu phụ: là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu thành thực thể chính của sản phẩm nhưng có tác dụng phục vụ trong quá trình sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài, tăng chất lượng, mẫu mã của sản phẩm hoặc được sử dụng để bảo đảm cho công cụ lao động hoạt động bình thường hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý. Nhiên liệu: là những thứ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm diễn ra bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể rắn, thể lỏng, và thể khí…Nhiên liệu thực chất là vật liệu phụ được tách thành 1 nhóm riêng do vai trò quan trọng của nó và nhằm mục đích quản lý và hạch toán thuận tiện hơn Phụ tùng thay thế: là những loại vật tư được sử dụng để thay thế, sửa chữa máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải. 9 Thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại thiết bị cần lắp, không cần lắp, các vật kết cấu dùng cho công tác xây dựng cơ bản, trong công nghiệp.
Vật liệu khác: là các loại vật liệu không được xếp vào các loại kể trên. Chủ yếu là các loại phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất, hoặc từ việc thanh lý TSCĐ. Việc phân chia nguyên vật liệu thành các loại như trên giúp cho kế toán tổ chức các tài khoản tổng hợp, chi tiết để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của các loại nguyên vật liệu đó trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp giúp, từ đó có biện pháp thích hợp trong tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại nguyên vật liệu. Phân loại theo nguồn hình thành bao gồm: Thứ nhất: Vật liệu tự chế là vật liệu doanh nghiệp tự tạo ra để phục vụ cho nhu cầu sản xuất Thứ hai:Vật liệu mua ngoài là loại vật liệu doanh nghiệp không tự sản xuất mà do mua ngoài từ thị trường trong nước hoặc nhập khẩu.
Thứ ba: Vật liệu khác là loại vật liệu hình thành do được cấp phát, biếu tặng, góp vốn liên doanh. Phân loại theo mục đích sử dụng gồm: Vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm Vật liệu dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ cho sản xuất chung, cho nhu cầu bán hàng, cho quản lý doanh nghiệp 2. Tính giá nguyên vật liệu Tính giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị nguyên vật liêu nhập kho, xuất kho và hiện còn trong kho theo phương pháp thích hợp. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho Hàng ngày kế toán ghi chép sự biến động của nguyên vật liệu theo giá vốn thực tế.
Giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là các khoản cần thiết để cấu thành trị giá nguyên vật liệu được đưa vào nơi sẵn sàng cho sử dụng hay bán. 10 Nguyên vật liệu nhập kho do nhiều nguồn khác nhau, tuỳ theo từng nguồn nhập mà giá trị thực tế của vật liệu nhập kho được xác định khác nhau. Đối với nguyên vật liệu mua ngoài: Giá thực Giá mua Các khoản thuế tế của Chi phí CKTM, Giảm giá (2.1) = ghi trên hoá + + không được hoàn - NVL mua thu mua hàng mua đơn lại ngoài Mua trong nước: Trong đó: Giá mua là giá chưa bao gồm thuế GTGT nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế, còn giá đã bao gồm cả thuế GTGT nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp trực tiếp Chi phí thu mua: bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, hao hụt trong ĐM. Các khoản thuế không được hoàn lại: như thuế nhập khẩu, thuế GTGT (nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp).
Mua ngoài nước (nhập khẩu) Trị giá nguyên vật Thuế nhập = Giá mua (CIF) + + Chi phí mua (2.2) liệu nhập kho khẩu Trong đó Giá mua (CIF) là giá mua tại cửa khẩu Thuế nhập khẩu = Giá mua (CIF) x % thuế suất thuế nhập khẩu Đối với nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế Giá thực tế Chi phí Chi phí của NVL thuê = của NVL xuất thuê + Thuê ngoài + vận chuyển (2.3) ngoài gccb ngoài gccb Gccb (nếu có) 11 Đối với nguyên vật liệu tự chế: Chi phí vận Giá thực tế Giá thành = + (2.4) của NVL tự chế sản xuất NVL chuyển (nếu có) Đối với nguyên vật liệu được cấp: Giá thực tế Giá theo (2.5) = của NVL được cấp biên bản giao nhận Đối với nguyên vật liệu nhận góp vốn liên doanh: Giá thực tế của Giá trị vốn góp nguyên vật liệu = do hội đồng liên (2.6) nhận góp vốn liên doanh doanh đánh giá Đối với nguyên vật liệu được biếu tặng, viện trợ: Giá thực tế của vật liệu Giá thị trường (2.7) = được biếu tặng, viện trợ tại thời điểm nhận Đối với phế liệu thu hồi từ sản xuất: Giá thực tế của Giá có thể sử dụng lại (2.8) = phế liệu thu hồi hoặc giá có thể bán Đối với nguyên vật liệu nhập kho do điều chuyển nội bộ Trị giá nguyên vật liệu nhập kho được xác định bằng giá ghi trên sổ sách kế toán của bên điều chuyển hay giá do hội đồng điều chuyển đánh giá cộng với chi phí vận chuyển, bảo quản. Tính giá nguyên vật liệu xuất kho theo trị giá vốn thực tế Việc lựa chọn phương pháp tính giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho phải căn cứ vào đặc điểm của từng doanh nghiệp về số lượng danh điểm NVL, số lần nhập xuất nguyên vật liệu, trình độ của nhân viên kế toán, thủ kho, điều kiện kho tàng của doanh nghiệp. Để tính trị giá vốn thực tế của nguyên vật liệu xuất kho, doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương pháp sau Điều 13 chuẩn mực số 02 nêu ra 4 phương pháp tính giá xuất hàng tồn kho: 12 Phương pháp tính theo giá đích danh Phương pháp bình quân gia quyền Phương pháp nhập trước, xuất trước Phương pháp nhập sau, xuất trước Ngoài ra trên thực tế còn có phương pháp giá hạch toán, phương pháp xác định giá trị tồn cuối kỳ theo giá mua lần cuối. Tuy nhiên khi xuất kho kế toán tính toán, xác định giá thực tế xuất kho theo đúng phương pháp đã đăng ký áp dụng và phải đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán.
Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, nguyên vật liệu xuất thuộc lô nào theo giá nào thì được tính theo đơn giá đó. Phương pháp này thường được áp dụng cho những doanh nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Ưu điểm của phương pháp này là xác định được chính xác trị giá nguyên vật liệu xuất làm cho chi phí hiện tại phù hợp với doanh thu hiện tại. Tuy nhiên trong trường hợp đơn vị có nhiều mặt hàng, nhập xuất thường xuyên thì khó theo dõi và công việc của kế toán chi tiết nguyên vật liệu sẽ rất phức tạp.