LỜI MỞ ĐẦU I) Lý do chọn đề tài Trong xu thế sôi động của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển phải hòa mình vào dòng chảy khốc liệt đó. Nền kinh tế càng đƣợc quốc tế hóa bao nhiêu thì sự cạnh tranh giữa các công ty càng trở nên mạnh mẽ hơn. Công cuộc đổi mới của đất nƣớc ta đang diễn ra trong cảnh kinh tế thế giới vô cùng biến động, trong những năm gần đây nền kinh tế đất nƣớc có nhiều thay đổi về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa. Song đây cũng chính là thời gian tƣơng đối khó khăn đòi hỏi các công ty doah nghiệp phải đƣa ra đƣợc các quyết định chính xác nhất đảm bảo sự tồn tại phát triển lâu dài của mình.
Hiện tại trong cơ chế thị trƣờng, lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh đảm bảo cho sự phát triển của mọi doanh nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và là lợi ích cuối cùng mà các doanh nghiệp đều muốn vƣơn tới. Để làm đƣợc điều này thì các doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình cung – cầu của thị trƣờng và thực lực của của đơn vị mình. Do vậy trong kinh doanh các nhà quản trị thƣờng có các biện pháp sử dụng hữu hiệu tài sản để giảm chi phí thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Trong doanh nghiệp sản xuất, giá thành sản phẩm chiếm tỉ trọng lớn trong tổng chi phí. Để giảm chi phí thì một trong những vấn đề đặt ra là phải giảm giá thành, nhƣng làm đƣợc việc này thì phải phân tích đƣợc cơ cấu của giá thành từ đó tìm ra các biện pháp tác động vào từng nhân tố sẽ đem lại kết quả cao. Để làm đƣợc việc này thì kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có đóng góp quan trọng trong việc ra quyết định cắt giảm chi phí đặc biệt trong môi trƣờng cạnh tranh ngày càng khốc liệt hiện nay. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng cũng nhƣ tính cấp thiết của vấn đề nên trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Phong Cách Anh, vận dụng những kiến thức đã đƣợc trang bị trong nhà trƣờng, cùng với sự hƣớng dẫn nhiệt tình của cô giáo, cũng nhƣ sự giúp đỡ của các anh, chị trong phòng kế toán tại công ty, em đã lựa 2 chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Phong Cách Anh”.
II) Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu những vẫn đề cơ bản trong công tác tâp hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Phong Cách Anh. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm tại công ty để có những biện pháp hữu hiệu trong kiểm soát và quản lý chi phí hợp lý hơn. Bổ sung kiến thức thực tế về kế toán với các kiến thức đã học để trau dồi nâng cao hiểu biết có thêm kỹ năng về toán.
III) Nội dung nghiên cứu Từ mục tiêu nghiên cứu trên, nội dung nghiên cứu sẽ tập trung vào vấn đề sau: – Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. – Xác định định mức về chi phí và các quyết định về sản xuất. IV) Phƣơng pháp nghiên cứu. – Phƣơng pháp thu thập số liệu – Phƣơng pháp hạch toán kế toán.
– Phƣơng pháp phân tích kinh doanh nhƣ phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp tỷ lệ. – Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra, phỏng vấn. V) Pham vi nghiên cứu. Nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Phong Cách Anh tháng 11 năm 2014.
Bố cục của đề tài: Gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận luận về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chƣơng 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong Công ty cổ phần Phong Cách Anh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Phong Cách Anh 3 Chƣơng I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.
Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất. Khái niệm về chi phí sản xuất. Quá trình sản xuất, kinh doanh trong doanh nghiệp là quá trình doanh nghiệp sử dụng, tiêu hao các nguồn lực lao động, vật tƣ, tiền vốn…để sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện lao vụ, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa…Chính sự tiêu hao các nguồn lực này là quá trình hình thành nên các khoản chi phí tƣơng ứng.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa tiền tệ và cơ chế hạch toán kinh doanh thì mọi chi phí của doanh nghiệp đều phải đƣợc lƣợng hóa và biểu hiện bằng tiền. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào đối tƣợng tính giá nhất định, đó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh. Và chi phí là khoản mất đi, tiêu hao để doanh nghiệp có đƣợc những sản phẩm, dịch vụ mong muốn. Nhƣ vậy, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt đƣợc mục đích tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó : + Hao phí về lao động sống là các khoản tiền công mà doanh nghiệp phải trả cho cán bộ công nhân viên tham gia sản xuất tạo ra sản phẩm. + Hao phí về lao động vật hóa là những khoản hao phí về việc sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, công cụ, dụng cụ …. đã tiêu hao trong quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ. Các chi phí này phát sinh có tính chất thƣờng xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất.Phân loại chi phí sản xuất Chi phí sản xuất gồm nhiều loại khác nhau, tùy từng mục đích quản lý nhìn nhận chi phí lại đƣợc phân chia theo các tiêu chí khác nhau nhƣ: Mục đích và công dụng của chi phí, nội dung và tính chất của chi phí, theo mối quan hệ của chi phí với đối tƣợng hoạt động… Phân loại theo mội dung, tính chất kinh tế của chi phí (phân loại theo yếu tố chi phí).
Căn cứ vào tiêu thức này CPSX đƣợc chia thành 5 yếu tố cơ bản: Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm giá trị các loại nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sản và chi phí nguyên vật liệu khác dùng cho sản xuất, kinh doanh. Chi phí nhân công: Là các khoản chi phí về tiền lƣơng, phụ cấp phải trả cho ngƣời lao động (thƣờng xuyên hay tạm thời về tiền lƣơng, tiền công, các khoản phụ cấp …) và các khoản trích theo lƣơng (BHXH, BHYT, BHTN,KPCĐ) theo tỷ lệ quy định. Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhƣ chi phí điện, nƣớc, điện thoại ….
Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm các chi phí sản xuất kinh doanh chƣa đƣợc phản ánh ở các chỉ tiêu trên, đã chi bằng tiền trong kỳ báo cáo nhƣ: Tiếp khách, hội họp, quảng cáo… Ý nghĩa: Cách phân loại này giúp doanh nghiệp xác định đƣợc mức tiêu hao của từng yếu tố chi phí trong quá trình SXKD, từ đó phục vụ cho việc xây dựng định mức, dự toán, lập kế hoạch sử dụng vật tƣ, lao động TSCĐ … Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phi. CPSX đƣợc chia thành 3 khoản mục chi phí sau: 5 Chi phí nguyên vật liêu trực tiếp: bao gồm chi phí về NVL chính, phụ sử dụng trực tiếp cho quá trình hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm. Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm các khoản phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm và các khoản trích theo lƣơng của công nhân sản xuất ( BHYT, BHXH, BHTN, KPCĐ). Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí liên quan đến việc phục vụ quản lý, sản xuất trong phạm vi các phân xƣởng, tổ đội sản xuất.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các chi phi nhƣ: chi phí nhân viên phân xƣởng, chi phí vật liệu phân xƣởng, chi phí khấu hao phân xƣởng…. Ý nghĩa: Việc phân loại CPSX theo tiêu thức này giúp cho kế toán tính đƣợc giá thành của sản phẩm hoàn thành trong kỳ. Đồng thời cung cấp tài liệu, số liệu cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các định mức chi phí cũng nhƣ phân tích giá thành theo khoản mục. Phân loại theo mối quan hệ với đối tƣợng chịu chi phí.
Chi phí trực tiếp: là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tƣợng chịu phí và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí nhƣ CPNVLTT, CPNCTT. Chi phí gián tiếp: đây là loại chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tƣợng chịu phí. Vì vậy, để có thể xác định đúng chi phí cho các bộ phận thì phải tiến hành phân bổ cho từng đối tƣợng theo từng tiêu thức nhất định. Ý nghĩa: giúp công tác xác định phƣơng pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho đối tƣợng chịu chi phí, tạo cơ sở cho việc xác định giá thành từng loại sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
Đối tƣợng tập hợp chi phí. Đối tƣợng tập hợp chi phí là những phạm vi, giới hạn để tập hợp CPSX theo các phạm vi và giới hạn đó. Khi xác định đối tƣợng kế toán tập hợp CPSX trƣớc hết các nhà quản trị phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí, sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc thù quản lý, quy trình công nghệ, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.