Phần Mở đầu và Kết luận, Khóa luận đƣợc kết cấu theo ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về KTNB NHTM Chƣơng 2: Thực trạng về hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động kiểm toán nội bộ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NHTM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ và cả những tổ chức phi lợi nhuận. Một số công trình nghiên cứu cho rằng trƣớc tiên kiểm toán nội bộ hình thành do các nhà quản lý trong những công ty cổ phần nhận thấy rằng việc kiểm toán báo cáo tài chính thƣờng niên do các kiểm toán viên độc lập thực hiện chƣa đáp ứng đƣợc đầy đủ các mong muốn của mình. Vì vậy, trong thời kỳ đầu, trọng tâm công việc kiểm toán nội bộ là kiểm tra sự ghi chép kịp thời, chính xác của các nghiệp vụ, giảm thiểu những sai sót khi hạch toán các bút toán kép, cũng nhƣ ngăn chặn những gian lận về tiền lƣơng và tài sản có thể phát sinh. Sau đó, do Ủy ban giao dịch chứng khoán của nhiều nƣớc đòi hỏi các nhà quản lý của các công ty cổ phần có yết giá ở thị trƣờng chứng khoán phải có trách nhiệm cao hơn về độ tin cậy của các báo cáo tài chính đƣợc công bố, nên từ đó, công việc kiểm toán nội bộ bao gồm cả việc phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát, cũng nhƣ kiểm tra các thông tin kế toán giữa kỳ và những thông tin không đƣợc xem xét bởi các Kiểm toán nội bộ độc lập khi thực hiện kiểm toán hàng năm.
Dần dần, vai trò của kiểm toán nội bộ đƣợc mở rộng nhằm hoàn thiện các chính sách và thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ hoạt động của đơn vị. Tại Mỹ, thuật ngữ kiểm toán nội bộ xuất hiện lần đầu tiên là vào những năm 30 của thế kỉ 20, nhƣng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000 - 2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes- Oxley của Mỹ ra đời năm 2002. Đƣợc Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật đƣợc bảo trợ bởi nguyên Thƣợng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán. Đạo luật đƣợc cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trƣờng chứng khoán cũng nhƣ bảo vệ lợi ích 10 cho các nhà đầu tƣ.
Đạo luật Sarbanes-Oxley có một đoạn văn nổi tiếng chỉ có vỏn vẹn 169 từ nhƣng mỗi năm đã ngốn của các công ty đang niêm yết ở Hoa Kỳ khoảng 6 tỷ USD, đó là mục 404, trong này quy định rằng bộ báo cáo hàng năm phải có Báo cáo kiểm soát nội bộ và báo cáo này phải có chứng thực của công ty kiểm toán. Đạo luật ra đời đã góp phần tăng cƣờng công tác quản trị doanh nghiệp, tăng cƣờng tính độc lập cũng nhƣ nâng cao vị thế của các kiểm toán viên, tăng cƣờng tính minh bạch của các báo cáo tài chính. Và khi nhắc đến kiểm toán nội bộ thì không thể không đề cập tới Viện Kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ (IIA), đƣợc thành lập năm 1941 tại New York. Hiện nay, IIA đã có hơn 50.000 thành viên trên toàn thế giới, thành viên của IIA còn là hiệp hội tại những địa phƣơng hoặc các tổ chức nghề nghiệp của các quốc gia.
Tháng 6/1999, Hội đồng giám đốc của IIA đã thông qua một định nghĩa mới về KTNB. Theo đó, khái niệm KTNB đã đƣợc hiểu là “hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức. KTNB giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu lực của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”. Cho tới nay, định nghĩa này vẫn đƣợc sử dụng phổ biến trong các tài liệu của IIA và đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, kiểm toán nội bộ từng đƣợc đề cập cách đây hơn hai thập kỷ, thể hiện qua Quyết định 832/QĐ-BTC của Bộ Tài chính năm 1997 quy định về quy chế kiểm toán nội bộ. Trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam, KTNB đƣợc đề cập lần đầu tiên thông qua Quyết định số 03/1998/QĐ-NHNN3 do Thống đốc NHNN ban hành ngày 3/1/1998, quy định về việc ban hành quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ trong các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam. Theo đó, khái niệm, mục tiêu kiểm tra, kiểm toán nội bộ đƣợc đƣa ra với nội dung: “Kiểm tra, kiểm toán nội bộ (gọi chung là kiểm tra nội bộ) trong các tổ chức tín dụng (TCTD) là việc TCTD thực hiện các phương pháp giám sát, kiểm tra và kiểm toán nội bộ nhằm: bảo đảm thực hiện đúng các quy định pháp luật, các quy chế quản lý của Ngành và quy định nội bộ của TCTD; hạn chế rủi ro trong hoạt động và bảo vệ an toàn tài sản; bảo đảm tính toàn diện, và tin cậy của số liệu hạch toán”. 11 Và đến năm 2006, văn bản này đã đƣợc thay thế bằng Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ban hành “Quy chế về kiểm soát nội bộ của TCTD” và Quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ban hành “Quy chế về kiểm toán nội bộ của TCTD”.
Năm 2011, Thông tƣ 44/2011/TT-NHNN do NHNN ban hành, thay thế cho Quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 và Quyết định số 37/2006/QĐ- NHNN ngày 01/8/2006. Thông tƣ quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và củng cố hoạt động kiểm toán nội bộ cho các TCTD Việt Nam. Trong Thông tƣ này cũng đã đƣa ra các định nghĩa về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên nội bộ. Theo khoản 2, Điều 3 của Thông tƣ, “Kiểm toán nội bộ là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật”.
Ngoài ra, trong Giáo trình Kiểm toán nội bộ Ngân hàng thƣơng mại của trƣờng Học viện Ngân hàng (2017)-NXB Dân trí đã đƣa ra khái niệm về kiểm toán nội bộ ngân hàng thƣơng mại. Theo đó, “KTNB NHTM là quá trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những người có thẩm quyền trong ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh giá về chất lượng và độ tin cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của ngân hàng, đồng thời đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội bộ và quản trị điều hành của ngân hàng”. Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của KTNB NHTM 1. Mục tiêu của KTNB NHTM Từ khái niệm về kiểm toán nội bộ có thể thấy mục tiêu kiểm toán nội bộ nói chung là tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức.
Trong đó giá trị gia tăng đƣợc hiểu là giá trị đƣợc tạo ra thông qua việc cải thiện các cơ hội để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức, xác định những tiến bộ trong hoạt động và giảm 12 thiểu rủi ro tiềm ẩn thông qua việc kiểm tra, đánh giá và tƣ vấn. Trong lĩnh vực Ngân hàng thƣơng mại, các mục tiêu của kiểm toán nội bộ bao gồm: Giúp Hội đồng quản trị (HĐQT), ban lãnh đạo (BLĐ) ngân hàng thực hiện chức năng giám sát đối với quy trình báo cáo thông tin tài chính, phi tài chính nhằm đảm bảo rằng các thông tin đƣợc công bố là trung thực, rõ ràng và không bị lạm dụng. Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát nội bộ. Phát hiện kịp thời và chỉ ra nguyên nhân những sơ hở, yếu kém trong hoạt động từ đó đề xuất và tƣ vấn với HĐQT, BLĐ các biện pháp, giải pháp để cải tiến.
Giúp nâng cao vị thế của ngân hàng thông qua việc hoàn thiện môi trƣờng quản lý rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Chức năng của KTNB NHTM Chức năng của KTNB NHTM bao gồm: - Chức năng kiểm tra: Là việc sử dụng các kỹ thuật thông thƣờng nhƣ rà soát lại, nghiên cứu kỹ, đọc, duyệt, xem xét, so sánh, đối chiếu, xác minh… để thu thập bằng chứng kiểm toán liên quan tới mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính. - Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, KTNB thực hiện đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin tài chính và phi tài chính, tài liệu đƣợc kiểm tra. - Chức năng xác nhận: Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng của các thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó.
- Chức năng tƣ vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá, KTNB đề xuất và tƣ vấn giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến và hoàn thiện KSNB, giúp ngân hàng đạt đƣợc mục tiêu của mình.