CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VỂ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ HỆ THỐNG CÁC PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ THỰC HIỆN. K h á i n iệ m , b ả n c h ấ t, v a i tr ò của k iể m to á n tro n g nền k in h tê th ị trư ờ n g. K h á i niệm và bản c h ấ t củ a kiểm toán. Trên thế giới, thuật ngữ “kiểm toán” đã xuất hiện từ lâu đòfi.
Kiểm toán xuất hiện từ khi có nhu cầu xác định tính trung thực và độ tin cậy của các thông tin trong các báo cáo kế toán tài chính và tình hình tài sản của các chủ thể trong nền kinh tế. Kiểm toán ban đầu xuất hiện như là một hình thức xác nhận tính đúng đắn và hợp lý các thông tin mà những người làm công việc ghi chép kế toán trình bày trước một hội đổng giám sát. Những người làm công tác kế toán đọc các số liệu trong tài liệu cho một bên độc lập nghe và họ nhận xét, đánh giá về tính hợp lý và đúng đắn của các thông tin số liệu đó. Nếu như kế toán có nhiệm vụ là tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho quyết định kinh tế của các đối tượng có liên quan, thì kiểm toán có trách nhiệm thẩm tra, đánh giá, bảo đảm và nâng cao độ tin cậy của các thông tin kế toán.
Có nhiều khái niệm về kiểm toán, nhưng có thể hiểu một cách tổng quát nhất, rằng: Kiểm toán là việc kiểm tra thẩm định, đánh giá, nhằm xem xét chất lượng hoạt động của một tổ chức, chất lượng các hồ sơ tài chính cũng như công tác quản lý điều hành của ban lãnh đạo tổ chức đó. Theo quan điểm của các nhà kiểm toán chuyên nghiệp thì kiểm toán được hiểu là: “. một chức năng quản lý, một quá trình mà trong đó các kiểm toán viên có thẩm quyền - những người được đào tạo để có trình độ thích hợp, tiến hành một cách độc lập việc thu thập, đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng liên quan đến hoạt động kinh tế tài chính của một đơn vị Vũ Xuân Quang Lóp cao học Khóa 4 -11 - Luận văn cao học Chuyên ngành Kinh tế-Tài chính- Ngân hàng nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp của các thông tin đó vói các chuẩn mực đã được thiết lập và được pháp luật thừa nhận”. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC - The International Federation of Accountants) thì: “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày kiến của mình về bản báo cáo tài chính”, theo đó có thể định nghĩa về kiểm toán và bản chất của kiểm toán được hiểu như sau: “Kiểm toán là quá trình mà các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể, nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin đó với các chuẩn mực đã được xây dựng”.
Để hiểu rõ hơn về bản chất cũng như chức năng, nhiệm vụ và vai trò của kiểm toán, chúng ta cần đi sâu vào phân tích một số khái niệm liên quan sau: Chuyên gia độc lập và có thẩm quyển: Tính độc lập là một điều kiện tiên quyết phải được đảm bảo khi tiến hành kiểm toán. Mặc dù tính độc lập chỉ là tương đối song nó phải là mục tiêu hướng tới của các kiểm toán viên. Bởi vì một báo cáo kiểm toán sẽ không còn ý nghĩa khi mà tính độc lập bị vi phạm, chỉ vì một cá nhân có đủ thẩm quyền mà lại không độc lập thu thập bằng chứng. Độc lập trong thu thập bằng chứng sẽ đảm bảo chắc chắn có những báo cáo tin cậy.
Cá nhân phải có đủ trình độ và khả năng để nắm bắt và hiểu rõ các chuẩn mực được sử dụng. Hơn nữa, các đơn vị ngày nay hoạt động kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh gay gắt, cho nên việc bảo đảm bí mật các số liệu là hết sức quan trọng (điều này lại càng đúng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng). Vì vậy, các nhân viên nếu muốn thực hiện kiểm toán phải có đủ thẩm quyền được thâm nhập và tra cứu các số liệu của đơn vị. Bằng chứng kiểm toán được hiểu là tất cả các thông tin, tài liệu do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm toán.
Kiểm toán viên sử dụng những bằng chứng này để hình thành ý kiến nhận xét của mình về đối tượng kiểm toán. Chính những bằng chứng này là cơ sở xác định xem thông tin số lượng được kiểm toán có được trình bày phù hợp với những tiêu chuẩn được xây dựng không. Bằng chứng có thể là các văn bản, tài liệu, chứng từ, lời khai Vũ Xuân Quang Lớp cao học Khóa 4 - 12- Luận văn cao học Chuyên ngành Kinh tế-Tài chinh- Ngân hàng của chính đối tượng được kiểm toán, các thông tin về tình hình hoạt động của đơn vị hay có thể là các tính toán của các kiểm toán viên. Tuỳ theo từng mục đích khác nhau của cuộc kiểm toán mà số lượng bằng chứng cần thu thập nhiều hay ít.
Thông tin có thể định lượng được là các thông tin tồn tại dưới các hình thức như số liệu kế toán (báo cáo tài chính, quyết toán công trình), chi phí thực tế cho công nhân được đo bằng tiền tệ, hiện vật hay thời gian lao động. Chuẩn mực là nguyên tắc, thủ tục cơ bản và những giải thích, hướng dẫn khi áp dụng các nguyên tắc và thủ tục đó trong các cuộc kiểm toán. Mỗi cuộc kiểm toán lại có các tiêu chuẩn khác nhau phụ thuộc mục đích kiểm toán. Vì vậy, ngoài các chuẩn mực chung được thừa nhận chung trên phạm vi quốc tế, các kiểm toán viên còn phải căn cứ vào chuẩn mực riêng của từng quốc gia và được chọn sử dụng theo mục tiêu của cuộc kiểm toán.
Báo cáo kiêm toán là bản thông báo về nhận xét của kiểm toán viên cho người có nhu cầu sử dụng báo cáo tài chính hoặc thông tin mà họ quan tâm. Về hình thức thì báo cáo kiểm toán có thể khác nhau, xong về cơ bản thì nó cần phải thông tin cho người đọc về mức độ phù hợp giữa các thông tin được kiểm toán với các chuẩn mực được xây dựng. Tóm lại, có thế hiểu kiểm toán như là một dịch vụ xác nhận và báo cáo sự trung thực và hợp lý (True & Fair) của các thông tin được kiểm toán 1. Vai trỏ của kiểm toán trong nền kinh tế.
Hoạt động của bất kỳ một quốc gia nào, một tổ chức kinh tế nào đều nhằm đạt được tốc độ phát triển cao và sự hoàn thiện. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào, tổ chức kinh tế nào cũng có thể đạt được mục tiêu đó, bởi lẽ các biến động của môi trường kinh tế xã hội là tất yếu xảy ra, có thể gây ra những bất lợi cho hoạt động của của quốc gia hay tổ chức kinh tế đó. Không một ai có thể khẳng định rằng trong quá trình phát triển của mình sẽ không gặp phải những những rủi ro, thách thức. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra cho mình.
Nhận thức được vấn đề này, các nhà hoạch định chiến lược quản lý của các quốc gia đã và đang xây dựng, áp dụng nhiều các chính sách, các công cụ Vũ Xuân Quang Lớp cao học Khóa 4 - 13- Luận văn cao học Chuyên ngành Kinh tế-Tài chính- Ngân hàng giúp cho việc quản lý kinh tế xã hội có hiệu quả. Trong đó, kiểm toán được đánh giá là một công cụ quan trọng không thể thiếu trong hệ thống các công cụ nhằm quản lý nền tài chính tiền tệ, ổn đinh chính trị - xã hội. Các chuyên gia kinh tế khi đánh giá về tình hình khủng hoảng tài chính tiền tệ tại khu vực Đông Nam Á đã đưa ra một số nhận định liên quan đến công tác quản lý, tổ chức hoạt động của các công ty kiểm toán. Họ cho rằng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu do bị mất thị trường nên đã dẫn đến doanh thu bị giảm sút, lâm vào khủng hoảng tài chính.
Thật sai lầm khi những hoạt động này lại không được phát hiện qua kiểm toán và không có được những cảnh báo kịp thời đê có biện pháp khoanh vùng và giải quyết triệt để. Chính từ đó đã lây lan qua các kênh đối tác, bạn hàng và tín dụng mua bán trả chậm v., và bùng phát trên phạm vi rộng lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhận định này có hoàn toàn đúng hay không thì không ai có thể dám chắc chắn, nhưng có một điều quan trọng là trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, kiểm toán đã đạt được các thành tựu to lớn, những đóng góp không thể phủ nhận. Những kết quả, thành tựu ấy đáng được chúng ta trân trọng.
Kiểm toán là một công cụ không thể thiếu của bất kỳ một quốc gia nào. Với cơ quan quản lý, hoạt động kiểm toán sẽ cung cấp kịp thời và chính xác những thông tin về hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý kinh tế tài chính, đê các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình, ngăn chặn hành vi vi phạm, bảo vệ an toàn tài sản của nhà nước và công dân. Kiểm toán thực hiện kiểm tra tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của thông tin trong hoạt động kinh tế, tài chính, làm lành mạnh hoá các quan hệ tài chính, cung cấp thông tin chân thực cho quản lý vĩ mô nền kinh tế. Vì khi kiểm toán xuất hiện, nhất là kiểm toán Nhà nước, đã giúp cho Nhà nước quản lý, khai thác và sử dụng tốt nhiều nguồn thu cho ngân sách, phát hiện nhiều yếu tố cản trở trong thu chi ngân sách.
Thông qua kiểm toán, cơ quan kiểm toán sẽ đề xuất với các cấp có thẩm quyền các biện pháp đảm bảo cho cơ chế chính sách được hoạt động tốt hơn. Với đơn vị được kiểm toán, hoạt động kiểm toán sẽ là nhân tố duy trì tính kinh tế hiệu quả và hiệu lực của hoạt động kinh tế trong đơn vị, vì thông Vũ Xuân Quang Lòp cao học Khóa 4 - 14- Luận văn cao học Chuyên ngành Kinh tế-Tài chính- Ngân hàng tin khi đã được cung cấp ra ngoài đã có sự thay đổi theo chiều hướng có lợi cho đơn vị.