Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống thông tin kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng hệ thống thông tin kế toán tại Trường Trung cấp nghề Giao thông vận tải Thanh Hoá. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán tại Trường Trung cấp nghề Giao thông vận tải Thanh Hoá. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, quản lý và điều hành mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Với vai trò này, Nhà nước tiến hành tổ chức bộ máy các cơ quan trực thuộc, gồm có cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp và đơn vị sự nghiệp. Theo Điều 2 nghị định 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 21/06/2021, đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ sự nghiệp công hoặc phục vụ quản lý nhà nước.
Theo chế độ kế toán Việt Nam (2015) thì đơn vị sự nghiệp là: Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn. 26] Như vậy, có thể khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập là cơ quan được Nhà nước thành lập để cung cấp các dịch vụ công và có nguồn thu trực tiếp từ các đối tượng sử dụng dịch vụ công đó. Về bản chất, cần hiểu đơn vị hành chính sự nghiệp là một từ ghép để phản ánh hai loại tổ chức khác biệt nhau: cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp. Trong đó, cơ quan hành chính Nhà nước là các cơ quan quản lý Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh vực (gồm các cơ quan quyền lực Nhà nước như Quốc hội, 5 HĐND các cấp, Các cấp chính quyền như Chính phủ, UBND các cấp, Các cơ quan quản lý Nhà nước như các Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương, các Sở, ban, ngành ở cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, các phòng ban ở cấp huyện và các cơ quan tư pháp như Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp).
Cơ quan hành chính Nhà nước hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp hoặc các nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao. Trong khi đó, các đơn vị sự nghiệp không phải là cơ quan quản lý Nhà nước mà là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục đào tạo, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ… đáp ứng nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thể lực cho nhân dân, đáp ứng yêu cầu về đổi mới, phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đối với các cơ quan hành chính hoạt động bằng nguồn NSNN do đó cần đổi mới đơn giản hoá thủ tục và nâng cao chất lượng, trình độ công tác chuyên môn của đội ngũ công chức nhằm tiết kiệm chi hành chính, tinh giảm bộ máy biên chế nhằm nâng cao chất lượng công vụ. Đối với các đơn vị sự nghiệp, ngoài nguồn NSNN phần lớn hoạt động trên nguồn thu sự nghiệp.
Do vậy trong bối cảnh mới các đơn vị này tự chủ, tự chịu trách nhiệm sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức và lao động hợp lý đồng thời góp phần tăng thu nhập, phúc lợi cho người lao động. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau (y tế, giáo dục, văn hóa,…) nhưng đều có chung đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là không đặt lợi nhuận lên đầu mà hoạt động phục vụ lợi ích người dân là chính. Hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về mặt tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức, các giá trị xã hội khác. Thứ hai, hoạt động của các đơn vị SNCL luôn gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Chính phủ luôn tổ chức, duy 6 trì và đảm bảo các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, như chương trình xoá mù chữ, chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chương trình dân số - KKKGĐ… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, mang lại lợi ích cho người dân. Thứ ba, Hoạt động của đơn vị SNCL được trang trải một phần từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp hoặc cấp trên cấp và từ các nguồn thu sự nghiệp do nhà nước quy định như từ các khoản thu phí, lệ phí, thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, từ nguồn viện trợ, tài trợ, biếu, tặng và nguồn khác theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Thứ tư, Sản phẩm của các đơn vị SNCL mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội, có tính bền vững, lâu dài. Chủ yếu là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng [6].
Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập a. Nếu phân loại theo lĩnh vực hoạt động: Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các trường mầm non, tiểu học, trung học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học, học viện. - Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật bao gồm các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, trung tâm thông tin triển lãm, thư viện công cộng, đài phát thanh, truyền hình. - Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao bao gồm trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao.
- Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực kinh tế bao gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp, địa chính,… - Đơn vị SNCL hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm các cơ sở khám 7 chữa bệnh như các Bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành và địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe,… b. Nếu phân loại theo chủ thể quản lý thì đơn vị sự nghiệp công lập: Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị SNCL do Trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, trường học do Trung ương quản lý,… - Đơn vị SNCL do địa phương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình tỉnh, thành phố, các bệnh viện, trường học do địa phương quản lý,… c. Nếu phân loại theo tính chất công cộng hay cá nhân của dịch vụ cung cấp: Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công cộng thuần túy - Đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng có tính chất cá nhân d. Nếu phân loại theo quan điểm về thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại 60/2021/NĐ-CP của Chính phủ: Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư là đơn vị đáp ứng một trong các điều kiện sau: Đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100%; có mức tự bảo đảm chi đầu tư bằng hoặc lớn hơn mức trích khấu hao và hao mòn tài sản cố định của đơn vị.
Đơn vị cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước. - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên: Đơn vị có mức tự bảo đảm kinh phí chi thường xuyên bằng hoặc lớn hơn 100% và chưa tự bảo đảm chi đầu tư; - Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên từ 10% đến dưới 100%, 8 - Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên gồm: Đơn vị sự nghiệp công có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên; Đơn vị sự nghiệp công không có nguồn thu sự nghiệp. Hệ thống thông tin kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm về hệ thống thông tin kế toán Hệ thống thông tin kế toán là một cấu trúc mà một đơn vị sử dụng để thu thập, lưu trữ, quản lý, xử lý, truy xuất và báo cáo dữ liệu tài chính của mình để nó có thể được sử dụng bởi kế toán, chuyên gia tư vấn, nhà phân tích kinh doanh, người quản lý, giám đốc tài chính, kiểm toán viên, nhà quản lý và cơ quan thuế.
Hệ thống kế toán xử lý các dữ liệu đầu vào thành các sản phẩm thông tin đầu ra và sử dụng các qui trình kiểm soát nội bộ để hạn chế ảnh hưởng của môi trường tới tổ chức. Đầu vào của hệ thống kế toán là các nghiệp vụ kinh tế. Nó bao gồm các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo nguồn thu cho tổ chức và các hoạt động phát sinh chi phí của tổ chức. Các quá trình trong hệ thống kế toán ghi chép lại các nghiệp vụ kinh tế trên các sổ sách kế toán và tổng hợp chúng trên nhiều loại báo cáo.
Đầu ra của hệ thống kế toán là các tài liệu và báo cáo kế toán. Vai trò của hệ thống thông tin kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập Hệ thống thông tin kế toán tồn tại trong tất cả các đơn vị sự nghiệp.