Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu * Chương 2: Cơ sở lý luận về Hệ thống thông tin kế toán. * Chương 3: Thực trạng về hệ thống thông tin kế toán tại TPHCM. 4 * Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu về thực trạng hệ thống thông tin kế toán tại TPHCM * Chương 5: Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán trong điều kiện ứng dụng CNTT tại TPHCM 1.2 Tổng quan các đề tài nghiên cứu Trong những năm gần đây, HTTTKT luôn chiếm một vị trí quan trọng trong mọi quy trình quản lý và được thực hiện bởi những công cụ chủ yếu là HTTTKT của đơn vị. Điều đó cho thấy HTTTKT được thiết lập để giúp cho kế toán và chủ DN thực hiện hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn.
Trên cơ sở HTTTKT các doanh nghiệp sẽ ứng dụng CNTT nhằm giúp cho DN và kế toán cập nhật thông tin một cách chính xác và nhanh chóng. Tuy nhiên, hiện nay các đề tài đã thực hiện nhiều về HTTTKT nhưng không đề ra nhưng rủi ro trong điều kiện ứng dụng CNTT, các đề tài đã kham thảo, như sau: Nguyễn Văn Thông, Tổ chức hệ thống thông tin kế toán doanh nghiệp trong điều kiện tin học hóa. Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng về HTTTKT tại các doanh nghiệp. Những đề xuất này mang tính chất chung chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp. [1] Phạm Văn Trà, Tổ chức hệ thống thông tin kế toán áp dụng trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở VN. Luận văn thạc sỹ.
Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng về HTTTKT tại các DNNVV tại VN và đề ra các giải pháp tổ chức HTTTKT áp dụng cho các DNNVV tại VN.[2] Trần Thanh Thuý, 2011. Tình hình ứng dụng ERP và sự tác động của ERP đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sỹ.
Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn đã đề cập ERP là giải pháp giúp cho công tác kế toán khắc phục được những hạn chế về mặt không gian và thời gian nhờ khả năng chia sẻ và liên kết cao giữa các bộ phận, từ đó, giúp cho quá 5 trình cung cấp thông tin mang tính kịp thời và đáng tin cậy. Trong hệ thống ERP, phân hệ kế toán được xem là cốt lõi, do đó, yêu cầu đặt ra là cần được tổ chức hiệu quả nhằm tạo ra những thông tin hữu ích, phù hợp với yêu cầu quản lý.[3] Như vậy các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau: Thực trạng HTTTKT tại VN và các công ty nhỏ và vừa… nhận thấy mặt tồn tại của đơn vị từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện. Tuy nhiên tác giả đề xuất những giải pháp về HTTKT trong các công trình này là những đề xuất mang tính chất chung cho các đơn vị doanh nghiệp, tác giả chưa đưa ra được những giải pháp thiết thực để các đơn vị vận dụng nhằm đóng góp nhất định vào việc hạn chế rủi ro , ngăn ngừa đến mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra trong HTTTKT trong điều kiện ứng dụng CNTT.
Mặc dù vậy các luận văn nghiên cứu về HTTTKT trong điều kiện ứng dụng CNTT đã công bố nhưng hiện nay tại TPHCM việc hoàn thiện và đề ra các giải pháp để ngăn ngừa các rủi ro trong việc áp dụng CNTT chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên về nội dung. Vì vậy, tác giả đã thực hiện đề tài: “Hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin” nhằm góp phần nâng cao chất lượng hệ thống thông tin kế toán và tăng tính hiệu quả an toàn thông tin trong việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Thành phố Hồ Chí Minh. KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Chương một trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, trong đó nêu rõ vấn đề về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu là các DNNVV trên địa bàn TP.HCM; phương pháp nghiên cứu sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng của các DNNVV. Đề tài đề ra kết cấu được thực hiện trong 5 chương, làm sao bảo đảm có sự kết hợp giữa lý luận thực tiễn dựa trên những quy luật phát triển khách quan của kinh tế xã hội, các quan điểm và quy định về HTTTKT.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 2.1 Hệ thống thông tin kế toán: 2.1 Khái niệm: Hệ thống: Hệ thống là môt tập hợp các thành phần phối hợp với nhau để hoàn thành một loạt các mục tiêu. Một hệ thống bất kỳ đều có 3 đặc điểm sau: Có các thành phần bộ phận (hoặc các đặc điểm hữu hình). Tiến trình xử lý (hay phương pháp) để phối hợp các thành phần theo các đã quy định. Mục tiêu hoặc đối tượng của hệ thống.
Hệ thống con và hệ thống cha: Từ định nghĩa trên cho ta thấy hệ thống sẽ tồn tại ở nhiều cấp bậc khác nhau. Các thành phần của nó cũng có thể là hệ thống với các đặc điểm của một hệ thống phải có. Các hệ thống cấp thấp hơn trong một hệ thống là những hệ thống con, nó cũng có những tiến trình phối hợp các thành phần bộ phận để đạt được mục tiêu của nó. Khái niệm hệ thống con, hệ thống cha phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi cá nhân khi tiếp cận hệ thống đó.
Phân loại hệ thống: Hệ thống có nhiều dạng khác nhau nhưng có thể được phân loại thành bốn dạng cơ bản sau: Hệ thống đóng: là hệ thống cô lập với môi trường, nó không có nơi giao tiếp với bên ngoài, không tác động khỏi đường biên và các tiến trình xử lý sẽ không bị môi trường tác động. Hệ thống đóng có quan hệ: là hệ thống có sự tác dụng của môi trường, có nơi giao tiếp với bên ngoài và có sự kiểm soát ảnh hưởng của môi trường lên tiến trình. Quan hệ ở đây được thể hiện qua các nhập liệu và kết xuất. Hệ thống mở: là hệ thống không kiểm soát sự tác động qua lại của nó với môi trường.
Ngoài việc thể hiện quan hệ qua quá trình nhập liệu và kết xuất, hệ thống thường bị nhiễm loạn hoặc không kiểm soát được, ảnh hưởng đến tiến trình xử lý của nó. Hệ thống được thiết kế tốt sẽ hạn chế tác động của sự nhiễm loạn. 7 Hệ thống kiểm soát phản hồi: là hệ thống có các nhập liệu có thể là kết xuất của nó. Hệ thống thông tin: Thông tin là dữ liệu được sắp xếp và xử lý để cung cấp một cách có ý nghĩa cho người sử dụng.
Hệ thống thông tin (information system) là một hệ thống mà mục tiêu tồn tại của nó là cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của con người trong một tổ chức nào đó. Ta có thể hiểu hệ thống thông tin là hệ thống mà mối liên hệ giữa nó với các hệ thống khác là sự trao đổi thông tin. Đầu vào Xử lý Đầu ra Dữ liệu thông Sắp xếp, tổ Thông tin cho tin từ các nguồn chức và tính việc ra quyết nhập xuất toán định nhập/xuất Hình 2. Lƣu đồ dùng để mô tả ba giai đoạn trong quá trình xử lý Hệ thống thông tin kế toán: Kế toán Hệ thống thông Hệ thống tin kế toán thông tin Hình 2.
Lƣu đồ mô tả nhìn nhận hệ thống thông tin kế toán Kế toán bao gồm các lĩnh vực về kế toán tài chính, kế toán quản trị, kế toán chi phí và kế toán thuế. Hiện nay hệ thống thông tin kế toán được thiết lập để cung cấp thông tin cho các lĩnh vực này. Thách thức lớn nhất của kế toán là làm sao đưa được các thông tin tốt nhất cho những người cần thông tin (bên trong doanh nghiệp 8 và bên ngoài doanh nghiệp). Kế toán còn giúp giải quyết các thông tin không liên quan đến kế toán như, lập dự toán về các khoản thu chi tiền mặt của doanh nghiệp, tổng hợp và phân tích các thông tin về doanh thu, chi phí và dự đoán doanh số các thị trường của doanh nghiệp, phân tích các chi phí về lương và các lợi ích mang lại của người lao động, tổng hợp về vấn đề hàng tồn kho, phân tích biến động chi phí sản xuất.
Bên cạnh đó thông tin kế toán còn cung cấp những thông tin rất hữu dụng cho những người là công việc không liên đến quan kế toán như tài chính, nghiên cứu thị trường, nhân sự. Mặc dù thông tin là quan trọng nhưng các thông tin cần phải được xử lý vì người sử dụng cần các thông tin tài chính đã được tổng hợp, hay tổng kết thống kê, hay các thông tin mang tính dự toán là cơ sở cho việc ra quyết định. Công việc xử lý dữ liệu thường trải qua các bước sau: Thứ nhất, nhập liệu các thông tin thô vào; Thứ 2, tiến hành xử lý các thông tin; Cuối cùng, cho các thông tin có ý nghĩa. Theo như các tài liệu Hệ thống thông tin kế toán, được định nghĩa, như sau: Hệ thống thông tin kế toán là một tập hợp bao gồm các xử lý, các hoạt động và hệ thống con nhằm thu thập, xử lý dữ liệu kế toán bằng cách phân loại, tổng hợp, hợp nhất và tạo thông tin truyền đạt đến đối tượng sử dụng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp [4].
Hệ thống thông tin kế toán: Là việc thu thập các dữ liệu và xử lý các thông tin này theo một trình tự, từ đó có thể cung cấp các thông tin cần thiết cho người sử dụng [5]. Vì vậy hệ thống thông tin kế toán đó là việc thu thập các thông tin kế toán, lưu trữ nó để sử dụng trong tương lai và cung cấp thông tin cần thiết cho người sử dụng.2 Cấu trúc hệ thống thông tin kế toán: 2.1 Công nghệ thông tin (Information Technology – IT) Công nghệ thông tin (IT) là khái niệm dùng để chỉ các thiết bị phần cứng và phần mềm được sử dụng trong hệ thống thông tin được vi tính hóa, là một nhân tố quan trọng làm thay đổi hoạt động xã hội ngày nay. Và chính yếu tố này cũng làm thay đổi hoạt động thương mại trong thời đại mới.