Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Dự án sử dụng vốn vay ODA. Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ban quản lý Dự án Phát triển nông thôn tổng hợp các tỉnh miền Trung – Khoản vay bổ sung. Chương 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ban quản lý Dự án Phát triển nông thôn tổng hợp các tỉnh miền Trung – Khoản vay bổ sung.
8 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI DỰ ÁN SỬ DỤNG VỐN VAY ODA 2. Lý luận chung về kiểm soát nội bộ 2. Lịch sử ra đời và phát triển lý luận về kiểm soát nội bộ Hoạt động trong các đơn vị là một chuỗi các quy trình nghiệp vụ đan xen nhau một cách có hệ thống và ở bất kì khâu nào của các quy trình nghiệp vụ cũng cần chức năng kiểm soát. Hoạt động kiểm soát luôn giữ một vị trí quan trọng trong quá trình quản lý và điều hành kinh doanh.
Thông qua việc kiểm soát hữu hiệu, nhà quản lý có thể đánh giá và điều chỉnh việc thực hiện nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra với hiệu suất cao nhất. Công cụ chủ yếu để thực hiện chức năng kiểm soát của các nhà quản lý là hệ thống KSNB (Internal Control System). * Trước năm 1992 (giai đoạn tiền COSO) Năm 1929, Công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ - lần đầu đưa ra khái niệm về KSNB và chính thức công nhận vai trò của KSNB trong doanh nghiệp. Khái niệm KSNB lúc này được sử dụng trong các tài liệu kiểm toán và được hiểu như là một biện pháp giúp cho việc: - Bảo vệ tiền không bị các nhân viên gian lận; - Bảo vệ tài sản không bị thất thoát; - Ghi chép kế toán chính xác; - Tuân thủ chính sách của nhà quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Vào thập niên những năm 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ đã phát hành khá nhiều các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán. Giữa thập niên những năm 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong 9 các lĩnh vực thiết kế hệ thống kế toán và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Năm 1977, sau vụ bê bối Watergate với các khoản thanh toán bất hợp pháp cho chính phủ nước ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua Điều Luật Hành vi Hối lộ ở nước ngoài. Trong đó, KSNB rất được quan tâm đề cập đến để kiểm soát mọi hoạt động và khái niệm KSNB lần đầu tiên được xuất hiện trong văn bản pháp luật.
Từ năm 1980 – 1988, với sự kiện nghiêm trọng là sự sụp đổ hàng loạt các công ty cổ phần có niêm yết ở Hoa Kì như Ngân hàng Continental Illinois National Bank năm 1984; Công ty Dầu khí Texaco năm 1987. các nhà lập pháp buộc phải quan tâm nhiều đến KSNB và ban hành nhiều quy định hướng dẫn như: - Ủy ban quốc gia về phòng chống gian lận BCTC (1985) đưa ra hàng loạt các quy tắc về đạo đức, kiểm soát và làm rõ các chức năng của KSNB. - Ủy ban chuẩn mực kiểm toán Mỹ ban hành bản điều chỉnh chuẩn mực kiểm toán về KSNB vào năm 1988. - Ủy ban chứng khoán Mỹ ban hành các nguyên tắc về báo cáo trách nhiệm và đánh giá hiệu quả của KSNB năm 1988.
- Năm 1991, Tổ chức nghiên cứu kiểm toán nội bộ đưa ra các hướng dẫn kiểm soát và kiểm toán hệ thống thông tin. Những quy định này đều hướng chung đến mục tiêu phát triển vai trò của KSNB trong tổ chức, nhưng theo nhiều phương diện và có tồn tại nhiều điểm không đồng nhất, vì thế dẫn đến yêu cầu phải hình thành một hệ thống lý luận có tính chuẩn mực về KSNB. * Giai đoạn Báo cáo COSO năm năm 1992 Các công ty ở Hoa Kỳ phát triển rất nhanh và mạnh vào thời bấy giờ, đi kèm theo đó cũng là sự lớn mạnh nhanh về quy mô của các gian lận, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Nhiều Ủy ban ra đời để khảo sát và tìm cách khắc phục, ngăn chặn các 10 gian lận, hỗ trợ phát triển kinh tế.
Như ở trên có đề cập, Ủy ban quốc gia về phòng chống gian lận BCTC Treadway Commission được thành lập vào năm 1985 với mục tiêu hoạt động cơ bản là xác định các yếu tố gian lận trên BCTC và đưa ra các đề xuất để giảm thiểu phạm vi ảnh hưởng của các gian lận đó đến kết xuất thông tin. Một vấn đề lớn được quan tâm trong hội đồng này là KSNB với sự ưu tiên quan tâm dành cho môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, các Ủy ban kiểm toán và các chức năng của kiểm toán nội bộ. Ủy ban COSO là một Ủy ban gồm nhiều tổ chức nghề nghiệp nhằm hỗ trợ cho Ủy ban Treadway như: Hiệp hội kế toán viên công chức Hoa Kỳ, Hội Kế toán Hoa Kỳ … COSO đưa ra khuôn mẫu lý thuyết chuẩn cho KSNB. Đây là hệ thống lý luận đầy đủ nhất về KSNB cho dến thời điểm hiện nay.
Báo cáo COSO năm 1992 gồm 4 phần: (i) Tóm tắt dành cho nhà quản lý; (ii) Khuôn khổ chung của KSNB; (iii) Báo cáo cho bên ngoài; và (iv) Các công cụ đánh giá KSNB. Tóm lại, Báo cáo COSO là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Đặc điểm là tầm nhìn rộng, mang tính quản trị, đề cập các vấn đề liên quan BCTC, lĩnh vực hoạt động và tính tuân thủ. Báo cáo COSO tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB.
* Sau năm 1992 (giai đoạn hậu COSO) Nền tảng lý luận chuẩn cơ bản về KSNB mà báo cáo COSO đã tạo dựng là cơ sở lý luận hoàn thiện. Nhờ đó mà đã có hàng loạt nghiên cứu mở rộng và phát triển trên nhiều lĩnh vực như: - COBIT_1996 do ISACA ban hành. COBIT là hệ thống KSNB phát triển theo hướng công nghệ thông tin, nhấn mạnh đến hệ thống kiểm soát trong môi trường CIS. Cụ thể bao gồm kiểm soát CIS trong các lĩnh vực: Hoạch định, Tổ chức mua và triển khai, Phân phối và hỗ trợ, Giám sát.
- SAS 78 (1995) và SAS 94 (2001): Các chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ chuyển sang sử dụng báo cáo COSO là nền tảng đánh giá hệ thống KSNB 11 trong kiểm toán độc lập về kiểm toán BCTC và ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến việc xem xét KSNB trong BCTC - Báo cáo Basel (1998) của Ủy ban Basel về vận dụng KSNB của COSO vào hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Báo cáo này chỉ đi sâu vào ngành Ngân hàng cụ thể chứ không mở rộng phạm vi ra các ngành khác. - ERM (2001) Hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp phục vụ cho công tác quản trị. ERM được định nghĩa gồm 8 nhân tố cấu thành: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát.
* Hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam Nhìn chung, về cơ bản, hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập của Việt Nam trong thời gian qua. Cuối những năm 1980, khi Nhà nước từng bước chuyển nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động kiểm toán mới được chú trọng. Chính nhu cầu minh bạch thông tin của các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhu cầu về loại hình kiểm toán độc lập BCTC. Sự thành lập của Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam (VACO & AASC) vào tháng 5/1991 đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với công tác kiểm tra kế toán ở Việt Nam.
Sau đó, với sự thành lập của nhiều công ty kiểm toán khác như các công ty hợp danh, công ty liên doanh, các công ty kiểm toán quốc tế tại Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho kiểm toán Việt Nam phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Có thể tóm tắt quá trình phát triển của các lý luận cho hoạt động kiểm toán và KSNB như sau: - Tháng 1/1994, Chính phủ ban hành Quy chế kiểm toán độc lập. - Tháng 7/1994, Cơ quan kiểm toán Nhà nước trực thuộc Chính phủ 12 được thành lập. - Tháng 10/1994, Bộ Tài chính chính thức ban hành Quy chế Kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước.
- Tháng 9/1999, Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) đầu tiên. Lần lượt các năm 2000, 2001, 2003, 2005, 2012, 2015 Bộ Tài chính ban hành thêm các chuẩn mực. Năm 2001, theo Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC, trong chuẩn mực kiểm toán VSA 400 “Đánh giá rủi ro và KSNB”, Bộ Tài chính đã đưa ra định nghĩa về Hệ thống KSNB như sau: “KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập BCTC trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”. Năm 2012, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 214/2014/TT-BTC trong đó có VSA 315 “xác định và đánh giá rủi ro trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị” thay thế VSA 400.
Nhìn chung, ở Việt Nam, lý luận về KSNB còn chưa đầy đủ. KSNB chủ yếu vẫn chỉ được xem là công cụ quan trọng hỗ trợ kiểm toán viên độc lập thực hiện kiểm toán. Chức năng KSNB chưa thực sự tách rời hoàn toàn khỏi kiểm toán nội bộ và KSNB chưa được xem là công cụ hữu hiệu giúp ích cho quá trình quản lý hoạt động của doanh nghiệp. * Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực công Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng nó là đối tượng được quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước.
Một số các quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp.