Chương 1: Cơ sở lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ. Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH Kế Toán và Tư Vấn V. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại công ty TNHH Kế Toán và Tư Vấn V. ổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.
hái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Hoạt động kiểm soát luôn là khâu quan trọng trong quản lý, điều hành của nhà quản trị nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Hoạt động kiểm soát được thực hiện gắn liền với hệ thống kiểm soát nội bộ. Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lý, khái niệm kiểm soát nội bộ đã hình thành và phát triển để trở thành một hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ được hình thành và phát triển qua 4 giai đoạn là: giai đoạn sơ khai, giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn hiện đại.
Trong giai đoạn sơ khai, khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ dừng lại thể hiện là một công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác và kiểm tra ghi chép chính xác số liệu. Giai đoạn hình thành thì khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ được mở rộng và vượt ra khỏi thủ tục bảo vệ tài sản và ghi chép sổ sách kế toán. Tuy nhiên, KSNB vẫn mới dừng lại như là một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong BCTC. Đến giai đoạn phát triển thì khái niệm hệ thống KSNB được hệ thống hóa một cách đầy đủ và được ban hành thành một khuôn mẫu lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phục vụ nhu cầu của các đối tượng khác nhau.
Khuôn mẫu lý thuyết này được thể hiện trong báo cáo COSO 1992 do ủy ban COSO ban hành vào năm 1992. Đây là định nghĩa đầy đủ về kiểm soát nội bộ và đưa ra năm bộ phận của kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thồng, và giám sát. Theo báo cáo COSO 1992 định nghĩa: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự bảo đảm hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu dưới đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động 8 - Sự tin cậy của báo cáo tài chính - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định” Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ được mở rộng hơn nữa trong giai đoạn hiện đại. Báo cáo COSO 1992 chưa thực sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập được một cơ sở lý thuyết rất cơ bản và được xem là nền tảng về KSNB.
Trong giai đoạn hiện đại có rất nhiều nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời như phát triển về Quản trị rủi ro (ERM 2004), về công ty nhỏ, phát triển theo hướng công nghệ thông tin (COBIT), theo hướng kiểm toán độc lập, chuyên sâu về những ngành nghề cụ thể và giám sát (2008). Đầu thế kỷ 21, môi trường kinh doanh đã thay đổi đáng kể, ngày càng trở nên phức tạp với sự phát triển của công nghệ hiện đại. Do đó, một số nội dung trong báo cáo COSO 1992 không còn phù hợp. Vào ngày 14 tháng 5 năm 2013, COSO đã ban hành khuôn mẫu mới.
Với khuôn mẫu mới, COSO tin rằng sẽ giúp các tổ chức hoạt động có hiệu quả, phát triển và duy trì hệ thống KSNB nhằm nâng cao khả năng đạt được các mục tiêu của tổ chức và thích ứng với những thay đổi trong kinh doanh và môi trường hoạt động. Khuôn mẫu COSO 2013 đã cung cấp các nguyên tắc, kết hợp các hướng dẫn minh họa để giúp các tổ chức có thể thực hiện tốt công tác kiểm soát nội bộ trong môi trường hiện nay. So với COSO 1992 thì COSO 2013 có những sự thay đổi sau: Khuôn mẫu năm 2013 hệ thống hóa 17 nguyên tắc hỗ trợ cho năm thành phần của hệ thống KSNB. Làm rõ vai trò của việc thiết lập mục tiêu trong KSNB.
Phản ánh tầm quan trọng của công nghệ đến các thành phần của KSNB. Làm rõ các yêu cầu đối với tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Cập nhật các thay đổi trong kinh doanh, môi trường hoạt động. Mở rộng mục tiêu kinh doanh và mục tiêu báo cáo: mục tiêu tài chính và mục tiêu phi tài chính.
9 Khái niệm hệ thống KSNB theo quan điểm COSO 2013 có thể khái quát bằng sơ đồ sau:1 Sơ đồ 1.1: Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO Trong định nghĩa trên, có bốn nội dung cơ bản đó là: quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. - Kiểm soát nội bộ là quá trình Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được các mục tiêu của mình.
- Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong đơn vị Cần hiểu rằng kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu mà KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, đó là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên. Con người đặt ra mục tiêu và đưa cơ chế kiểm soát vào vận hành hướng tới các mục tiêu đã định. Ngược lại, KSNB cũng tác động đến hành vi của con người, hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức. - Đảm bảo hợp lý KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ đạt được.
Điều này xuất phát từ những hạn chế tiềm tàng trong 1 Đinh Hoài Nam,2016. Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị. Luận án tiến sỹ kinh tế. Học viện tài chính.
10 quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB, đó là do những sai lầm của con người khi đưa ra các quyết định, sự thông đồng của các cá nhân hay sự lạm quyền của nhà quản lý có thể vượt khỏi KSNB và do mối quan hệ giữa lợi ích của việc thiết lập nên hệ thống kiểm soát nội bộ. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. Tóm lại, có rất nhiều quan điểm định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng tác giả đồng tình với định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ của Báo cáo COSO 2013 vì quan điểm này dễ hiểu, đầy đủ và phù hợp giúp doanh nghiệp dịch vụ kế toán có thể nhận thức được toàn diện những yêu cầu phải đạt được của một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Do đó, tác giả chọn quan điểm này làm kim chỉ nam xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài.
- Mục tiêu: được trình bày chi tiết ở mục 1. ục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ Mỗi đơn vị có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác định các chiến lược cần thực hiện. Đó có thể là mục tiêu chung cho toàn đơn vị hay mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị. Có thể chia các mục tiêu kiểm soát thành ba nhóm: - Nhóm mục tiêu về hoạt động nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
- Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. - Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định. Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến hai hoặc ba nhóm trên. Sự phân chia này chủ yếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị: nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của đơn vị là chính, nhóm mục tiêu báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cổ đông, 11 nhà đầu tư và chủ nợ, nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý.
ác bộ phận cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO. Dù mỗi đơn vị có hệ thống KSNB khác nhau do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu… của từng nơi, nhưng theo báo cáo COSO 2013 thì hệ thống kiểm soát nội bộ nào cũng bao gồm năm thành phần sau: - Môi trường kiểm soát - Đánh giá rủi ro - Hoạt động kiểm soát - Thông tin và truyền thông - Giám sát 1. ôi trƣờng kiểm soát Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức của mọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ. Môi trường kiểm soát chịu ảnh hưởng của văn hóa lịch sử của tổ chức và ngược lại nó lại ảnh hưởng đến ý thức của nhân viên tổ chức đó.
Ngoài ra, nó còn ảnh hưởng đến cách thức kinh doanh của một tổ chức, đến các mục tiêu được thiết lập, đến các bộ phận còn lại của hệ thống KSNB. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm: - Tính trung thực và các giá trị đạo đức - Năng lực đội ngũ nhân viên - Hội đồng quản trị và ban kiểm soát - Triết lý quản lý và phong cách điều hành - Cơ cấu tổ chức - Phân chia quyền hạn và trách nhiệm COSO 2013 cung cấp 5 nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát: Nguyên tắc 1: đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính trung thực và các giá trị đạo đức. 12 Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ sự độc lập với người quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống KSNB. Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị cần thiết lập cơ cấu tổ chức, các loại báo cáo, phân định trách nhiệm và quyền hạn nhằm đạt được mục tiêu của đơn vị.