Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VẬT TƯ Để cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến hành được đều đặn, liên tục thì phải thường xuyên đảm bảo cho nó các loại vật tư, nguyên vật liệu đủ về số lượng, kịp về thời gian, đúng quy cách phẩm chất. Đây là một vấn đề bắt buộc mà nếu thiếu thì không thể có quy trình sản xuất sản phẩm được, là một tất yếu khách quan, một điều kiện chung cho mọi nền sản xuất xã hội. Khái niệm và bản chất của quản lý và sử dụng vật tư * Khái niệm về quản lý và sử dụng vật tư Quản lý và sử dụng vật tư có vai trò quyết định đến toàn bộ quá trình sản xuất. Mặc dù quản lý và sử dụng vật tư không tác động trực tiếp đến người tiêu dùng cuối cùng nhưng chất lượng của quản lý và sử dụng vật tư sẽ có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng phục vụ khách hàng và qua đó tác động mạnh mẽ đến người tiêu dùng cuối cùng.
Thực tế cho thấy, nếu quản lý không có hiệu lực và hiệu quả luồng vật tư đầu vào thì quá trình sản xuất không thể cho ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu về chất lượng, giá cả và thời hạn giao hàng. * Định nghĩa quản lý và sử dụng vật tư Quản lý và sử dụng vật tư là chức năng quan trọng không thể thiếu của mọi tổ chức. Quản lý và sử dụng vật tư bao gồm các công việc: quản trị cung ứng vật tư và theo dõi, quản lý vật tư trong suốt quá trình vật tư tồn tại trong tổ chức như một tài sản thuộc sở hữu của tổ chức. * Phân loại vật tư Vật tư bao gồm rất nhiều loại khác nhau với nội dung kinh tế và tính năng lý hoá học khác nhau.
Để có thể quản lý một cách chặt chẽ, người ta phân vật tư ra thành nhiều loại: Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 4 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội - Nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế - Công cụ, dụng cụ - Hàng hoá Ngoài ra, căn cứ vào đặc điểm của vật tư, hàng hoá có thể phân chúng thành các loại khác nhau: + Theo công dụng: Là những loại vật tư được phân loại theo công dụng và tính chất của nó trong quá trình sử dụng: - Nhóm 1 gồm: nguyên, nhiên vật liệu, bán thành phẩm - Nhóm 2 gồm: thiết bị máy móc công cụ, dụng cụ… + Theo sự di chuyển giá trị vào thành phẩm - Nhóm 1: nhóm vật tư chuyển một lần vào giá trị sản phẩm - Nhóm 2: nhóm vật tư chuyển từng phần váo sản phẩm. + Theo tầm quan trọng của vật tư Chia theo vật tư chính và vật tư phụ (Được xác định theo giá trị của vật tư và cơ cấu cấu thành sản phẩm của nó). - Loại 1: Vật tư quan trọng (các loại vật tư có độ khan hiếm cao, hoặc ít có trên thị trường). - Loại 2:Vật tư ít quan trọng hơn (vật tư sẵn có trên thị trường, kế hoạch không cần phải dự trữ nhiều).
Doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến loại vật tư quan trọng có độ khan hiếm cao, với mức dự trữ cao hơn bình thường để đảm bảo độ an toàn ở Doanh nghiệp, tránh rủi ro. + Theo tính chất sử dụng - Nhóm vật tư thông dụng: Nhóm vật tư này được sử dụng nhiều ở các Doanh nghiệp mang tính phổ biến. - Nhóm vật tư chuyên dùng: là vật tư dùng cho một số ít các ngành không phổ biến trong nền kinh tế. Loại này, Doanh nghiệp phải xác định Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 5 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội nguồn hàng ổn định và có mức dự trữ thoả đáng ổn định hoạt động kinh doanh của mình.
+ Theo sự phân cấp quản lý: - Nhóm vật tư được quản lý tập trung: Thị trường loại vật tư này do nhà nước cấp phát, quản lý theo kế hoạch và chỉ tiêu. - Nhóm vật tư quản lý không tập trung: loại vật tư được mua bán tự do và có sẵn trên thị trường. Các nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý và sử dụng vật tư ở Doanh nghiệp Có 2 nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý và sử dụng vật tư ở Doanh nghiệp * Nguyên tắc chức năng: Theo nguyên tắc này thì chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của phòng vật tư được chuyên môn hoá cho từng bộ phận, cho từng phòng ban theo hình theo sơ đồ sau: Hình 1.1: Tổ chức phòng vật tư theo nguyên tắc chức năng Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 6 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận này như sau: - Tổ kế hoạch cung ứng vật tư: + Làm nhiệm vụ xác định nhu cầu và nguồn vật tư cho Doanh nghiệp. + Lên phương án mua sắm vật tư + Lập đơn hàng vật tư + Lập phiếu lĩnh vật tư theo hạn mức + Chuyên theo dõi kiểm tra và sử dụng vật tư thiết bị + Thống kê tình hình xuất – nhập cung ứng vật tư + Lập kế hoạch vật tư mới.
+ Nghiên cứu thị trường các yếu tố sản xuất để có thể trả lời được những câu hỏi: Giá cả, chất lượng, số lượng, nguồn cung ứng. - Tổ tiêu thụ sản phẩm: + Nghiên cứu thị trường tiêu thụ + Theo dõi, thống kê, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. - Tổ kho: + Tiếp nhận, bảo quản và cấp phát vật tư đầy đủ, chính xác. - Tổ vận chuyển: Đối với các công ty lớn chuyên chở, có đội xe riêng của công ty.
Tuỳ theo quy mô, yêu cầu mà cần đến những số lượng và đội xe khác nhau. Công tác này, nó góp phần chủ động trong việc vận chuyển vật tư trang thiết bị, thuận tiện linh hoạt mọi lúc, mọi nơi. -Tổ tiếp liệu: làm nghiệp vụ mua sắm vật tư, áp tải vật tư hàng hoá, theo dõi giao nhận vật tư đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, chính xác theo đúng hợp đồng mua hàng. * Nguyên tắc mặt hàng Theo nguyên tắc này, tổ chức bộ máy quản lý và sử dụng vật tư được thành lập theo nhiều bộ phận.
Mỗi bộ phận phụ trách một nhóm mặt hàng vật tư chủ yếu của Doanh nghiệp. Theo hình thức này có thể tổ chức bộ máy như sau: Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 7 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội Phó giám đốc kinh doanh Ban hoá Ban máy móc Ban vật tư chất vật liệu thiết bị kỹ thuật Tiếp Kho Quản Tiếp Tổ kế liệu tàng Nghiên lý nhận hoạch hoá hoá cứu kho chất vận tàng thống chất kế kê vật chuyển vật hoạch bến liệu vật tư bãi liệu Hình 1.2: Tổ chức phòng vật tư theo nguyên tắc mặt hàng Mô hình tổ chức theo nguyên tắc mặt hàng thường được áp dụng đối các doanh nghiệp có quy mô sản xuất kinh doanh lớn. Một bộ phận quản trị kinh doanh không thể quán xuyến được tất cả những mặt hàng cho nên tổ chức theo nguyên tắc phân quyền chịu trách nhiệm riêng đối với từng mặt hàng. Đặc điểm mô hình tổ chức này là có thêm một cấp trung gian phụ trách một nhóm các mặt hàng vật tư.
Tuỳ theo chủng loại vật tư ở doanh nghiệp, người ta có thể chia theo các nhóm khác nhau dựa trên một vài tiêu thức quản lý nào đó. Từng ban trong bộ máy quản lý và sử dụng vật tư đều được cấu thành bởi ba bộ phận nhỏ hơn: Kế hoạch, tiếp liệu và các kho theo nguyên tắc thống nhất từng mặt hàng. Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 8 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội 1. Quy trình nghiệp vụ cung ứng vật tư Quy trình nghiệp vụ cung ứng vật tư bao gồm những công việc sau: - Xác định nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị… - Lựa chọn nhà cung cấp.
- Soạn thảo đơn đặt hàng – ký kết hợp đồng. - Tổ chức thực hiện đơn hàng/hợp đồng. - Nhập kho vật tư - bảo quản - cung cấp cho các bộ phận có nhu cầu.1 Xác định nhu cầu vật tư Xác định nhu cầu vật tư là bước đi đầu tiên của việc lập kế hoạch cung ứng, nên nó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc đảm bảo vật tư cho sản xuất có được kịp thời, đầy đủ, đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng, chủng loại hay không, một phần lớn do việc tính toán nhu cầu vật tư quyết định.
Trong mỗi tổ chức, tại bộ phận cung ứng việc xác định nhu cầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị (nhu cầu vật tư) bao gồm các bước sau: - Xác định nhu cầu vật tư của các bộ phận. - Tổng hợp nhu cầu vật tư của cả tổ chức. - Xác định nhu cầu vật tư cần mua sắm. * Xác định nhu cầu vật tư của từng bộ phận thuộc tổ chức/ công ty: Nhu cầu vật tư thường xuất phát từ các bộ phận sản xuất hay bộ phận quản lý hàng tồn kho.
Phòng cung ứng xác định được nhu cầu vật tư trên các cơ sở sau: - Phiếu yêu cầu vật tư. - Bảng dự toán nhu cầu vật tư. * Có 3 phương pháp xác định nhu cầu vật tư: - Phương pháp tính theo mức sản phẩm N sx = ∑Q i * mi Trong đó: Nsx: nhu cầu vật tư cần dùng để sản xuất sản phẩm i Qi: số lượng sản phẩm loại i sản xuất trong kỳ kế hoạch mi: mức sử dụng vật tư cho một đơn vị sản phẩm Học viên: Nguyễn Xuân Vũ - 07 – VT Trang: 9 Luận văn cao học QTKD T rường Đại học Bách khoa Hà Nội - Phương pháp xác định theo mức sử dụng bình quân của sản phẩm N sx = ∑Q i * m Trong đó: Nsx: Lượng vật tư dùng để sản xuất sản phẩm i Qi: Số lượng sản phẩm i sản xuất trong kỳ kế hoạch m: Mức sử dụng vật tư bình quân của 1 sản phẩm - Phương pháp tính theo hệ số biến động Nsx = Nbc *Tsx * Hsd Trong đó: Nbc: Số vật tư đã sử dụng năm trước Tsx: Nhịp độ sản xuất kỳ kế hoạch Hsd: Hệ số sử dụng vật tư năm kế hoạch so với năm trước * Tổng hợp nhu cầu vật tư của toàn thể tổ chức/ công ty: Khi nhận được các phiếu yêu cầu vật tư, bảng dự toán nhu cầu vật tư của các bộ phận cung ứng phải kiểm tra kỹ lưỡng độ hoàn chỉnh và tính chính xác của chúng.