CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Tổng quan về dự án và dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm + Theo Từ Quang Phương (2018), có nhiều cách định nghĩa về dự án. Tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó, trên phương diện phát triển ,có hai cách hiểu về dự án: Cách hiểu tĩnh và cách hiểu động.
Theo cạch hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tượng về một tình huống một trạng thái mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai “động” có thể định nghĩa như sau: Theo nghĩa chung nhất dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định. Dự án không phải là nghiên cứu trừ tượng mà tạo nên một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: (1) Nỗ lực tạm thời.nghĩa là , mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đạt được hoặc dự án bị loại bỏ: (2) Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với nhưng sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác.
+ Theo khoản 2 điều 3 Luật đầu tư 2018, dự án là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Vậy dự án được hiểu là “một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về mặt số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)” 1.2 Đặc điểm của dự án Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định. Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập.
Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức 4 tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao. Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo.
Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc… Dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được trao cho bộ phận quản lý vận hành. Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao.
Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên ở nhiều dự án tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau.
Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau. Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận qnảu lý khác Môi trường hoạt động va chạm. Quan hệ giữa các dụ án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án cạnh tranh lẫn nhau và với các hoạt động của tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị,.
trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án có hai thủ trưởng, nên không biết phải thưc hiện mệnh lệnh của cấp trên nào, nếu hai lệnh lại mâu thuẫn với nhau,. Do đó môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác thời gian đầu tư và vận hành kéo dài, nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. Dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm Theo khoản 15, điều 3, Luật xây dựng (2014), khái niệm dự án đầu tư xây dựng “Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.
Yêu cầu đối với dự án đầu tư xây dựng Theo Sổ tay nghiệp vụ Chỉ huy trưởng, giám sát công trình xây dựng (2019), dự án đầu tư xây dựng không phân biệt các loại nguồn vốn phải đáp ứng các yêu cầu sau: 1 Phù hợp với quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng, quy hoạch và sử dựn đất đai tại địa phương nơi có dự án đầu tư xây dựng. 2 Có phương án công nghệ và phương án thiết kế xây dựng phù hợp. 3 Đảm bảo chất lượng, an toàn trong xây dựng, vạn hành khai thác sử dụng công trình, phòng chống cháy nổ và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu 4 Đảm bảo cấp đủ vốn đúng tiến độ dự án, hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án 5 Tuân thủ quy định khác của pháp luật liên quan. Phân loại dự án đầu tư xây dựng Có nhiều cách phân loại: phân loại theo mục tiêu của dự án, phân loại theo phạm vi, phân loại theo lĩnh vực hoạt động, phân loại theo nguồn vốn, phân loại theo tính chất quy mô của dự án… Theo điều 6 luật Đầu tư công, Quốc Hội, ngày 13 tháng 6 năm 2019, thì các dự án đầu tư công được phân loại như sau: 1.
Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại như sau: a) Dự án có cấu phần xây dựng là dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; 6 b) Dự án không có cấu phần xây dựng là dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị, máy móc và dự án khác không quy định tại điểm a khoản này. Căn cứ mức độ quan trọng và quy mô, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo tiêu chí quy định tại các điều 7, 8, 9 và 10 của Luật này. Theo điều 5, nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng thì các dự án xây dựng công trình được phân loại như sau: + Theo quy mô và tính chất loại công trình Phân loại theo quy mô và tính chất loại công trình của dự án gồm: - Dự án trọng điểm quốc gia - Dự án nhóm A - Dự án nhóm B - Dự án nhóm C Theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công và được quy định chi tiết tại Phụ lục I ban hành kèm theo nghị định này. + Theo Dự án đầu tư xây dựng chỉ cần yêu cầu lập báo cáo kinh tế - Kỹ thuật Phân loại theo Dự án đầu tư xây dựng chỉ cần yêu cầu lập báo cáo kinh tế - Kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm : - Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo - Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (Không bao gồm tiền sử dụng đất) + Theo phân loại nguồn vốn Phân loại theo nguồn vốn sử dụng gồm: - Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước - Dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách - Dự án sử dụng vốn khác 1.
Trình tự dự án đầu tư xây dựng Trình tự thực hiện đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 06 của Nghị định số 59/2015/NĐ-CP Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng, được quy định cụ thể như sau: + Giai đoạn chuẩn bị. Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo 7 nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án. Giai đoạn chuẩn bị dự án là giai đoạn chi tiết xem xét dự án cần được thực hiện như thế nào mà nội dung chủ yếu của nó tập trung vào công tác thiết kế và lập kế hoạch. Đây là giai đoạn chứa đựng những công việc phúc tạp nhất của một dự án.