Mở đầu Chương 2. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu. Phân tích thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng trên địa bàn huyện Tân Phước - Tiền Giang. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng trên địa bàn huyện Tân Phước - Tiền Giang.
Giải pháp khắc phục các nhân tố ảnh hưởng, lập và đánh giá lại quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng trên địa bàn huyện Tân Phước - Tiền Giang có yếu tố luôn đánh giá và tự hoàn thiện. Kết luận và kiến nghị. 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Chương này sẽ trình bày sơ lược các nghiên cứu trước đã công bố trong và ngoài nước có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý dự án đầu tư công.1 Khái niệm và định nghĩa 2.1 Dự án và dự án đầu tư Theo định nghĩa của Tunner (1993) [15] : Dự án là nỗ lực của con người hoặc máy móc, nguồn lực tài chính và vật chất được tổ chức theo một cách mới để tiến hành một công việc đặc thù với đặc điểm kỹ thuật cho trước, trong điều kiện ràng buộc về thời gian và chi phí để đưa ra một thay đổi có ích được xác định bởi mục tiêu định tính và định lượng. Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện nghiên cứu quản lý dự án quốc tế (Project Management Institute’s guide to management body of knowledge) [16] thì “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ duy nhất”.
Với định nghĩa này thì dự án có hai đặc tính: Tạm thời (hay có thời hạn): Nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu dự án đã đạt được hoặc khi xác định được rõ ràng là mục tiêu không thể đạt được và dự án bị chấm dứt. Trong mọi trường hợp, độ dài của dự án là xác định, dự án không phải là sự cố gắng liên tục, tiếp diễn. Duy nhất: Nghĩa là sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất đó khác biệt so với những sản phẩm đã có hoặc dịch vụ khác.
Dự án liên quan đến việc gì đó chưa từng làm trước đây và do vậy là duy nhất. Theo Luật xây dựng số 50/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2014 [2] thì “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây 7 dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.2 Dự án đầu tư công Theo giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công của Nguyễn Hồng Thắng và Nguyễn Thị Huyền [12] thì “Dự án đầu tư công là những dự án do Chính phủ tài trợ (Cấp vốn) toàn bộ hoặc một phần hoặc do nhân dân tự nguyện đóng góp bằng tiền hay bằng ngày công nhằm đáp ứng mọi nhu cầu mang tính cộng đồng. Nếu mở rộng hơn nữa dự án công còn bao gồm những dự án mà chính phủ hoặc chính quyền địa phương đề xuất kêu gọi tài trợ quốc tế.
Cũng được xem là dự án công cho dù dự án đó do một đơn vị kinh doanh thực hiện nếu nó hướng đến việc nâng cao phúc lợi cộng đồng. Như vậy, nhận diện tính chất công của một dự án ở mục đích của nó, hướng đến việc tạo ra những lợi ích cộng đồng”. Theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13[3] thì “ Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công” 2.3 Vốn đầu tư công Theo Luật đầu tư công số 49/2014/QH13[3] thì “ Vốn đầu tư công gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu Chính phủ địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư”.4 Khái niệm về quy trình Định nghĩa quy trình của Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 : 2000 [13] là “ tập hợp các chỉ dẫn, quy tắc và chuẩn mực mà người làm công việc chuyên môn cần tuân thủ và thực hiện”.5 Quản lý dự án đầu tư công Theo Morris (1994) [17] thì “ quản lý dự án là quá trình kết nối các công tác, nhiệm vụ (đặc biệt là sử dụng những phương pháp quản lý dự án mang tính kỹ thuật) thông qua từng giai đoạn chu kỳ hoạt động của dự án (từ khi còn là ý tưởng đến khi chuyển giao) để đạt được mục đích của dự án”. Theo PMBOK (2000) [16] thì “ Quản lý dự án là việc áp dụng kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án để đáp ứng yêu cầu của dự án”.
Tóm lại nhà quản lý dự án (project manager) phải làm tất cả những yêu cầu cần thiết theo đúng trình tự, trong giới hạn thời gian và ngân sách cho phép để đạt được mục tiêu đề ra.6 Nội dung quản lý dự án đầu tư công Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP [7] thì “ Quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng ” 2.7 Công trình xây dựng dân dụng Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP [6] thì công trình xây dựng dân dụng gồm: Nhà ở gồm: nhà chung cư và các loại nhà tập thể khác; nhà ở riêng lẻ. Công trình công cộng gồm: Công trình giáo dục; Công trình y tế; Công trình thể thao; Công trình văn hóa; Công trình tôn giáo, tín ngưỡng; Công trình thương mại, dịch vụ và trụ sở làm việc của các tổ chức xã hội, sự nghiệp và doanh nghiệp; Nhà ga; Trụ sở cơ quan nhà nước.8 Chất lượng đầu tư công Theo giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công của Nguyễn Hồng Thắng và Nguyễn Thị Huyền [12] thì: Chất lượng đầu tư công là một khái niệm nội hàm gồm 05 phẩm chất: hiệu suất, hiệu quả, tác động, mức độ phù hợp và tính bền vững với: Hiệu suất: phản ánh năng suất của dự án. Nó đo lường mức độ chuyển hóa những đơn vị đầu vào thành một đơn vị đầu ra. Một dự án đạt hiệu suất cao nhất khi 9 sử dụng các nguồn lực với chi phí thấp nhất có thể đạt được đầu ra mong muốn.
Biểu hiện cụ thể là hiện giá thuần tài chính càng dương càng tốt. Hiệu quả: là thước đo mức độ đạt được các kết quả và mục tiêu từ những sản phẩm (đầu ra) của dự án. Tác động: hàm ý những thay đổi tích cực hay tiêu cực, trực tiếp hoặc gián tiếp, chủ ý hay không chủ ý do việc thực thi dự án tạo ra. Mức độ phù hợp: mức độ thích hợp của dự án đối với ưu tiên mang tính chiến lược của đất nước.
Tính bền vững: độ lâu dài của những lợi ích mà dự án mang lại.9 Quản lý chất lượng công trình Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP [6] thì: “Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động quản lý của các chủ thể tham gia các hoạt động xây dựng có liên quan trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng công trình và khai thác, sử dụng công trình nhằm đảm bảo các yêu cầu về chất lượng và an toàn của công trình”.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng Nhà nước quản lý các dự án đầu tư xây dựng nhằm đảm bảo các yêu cầu và nguyên tắc cơ bản sau đây: Bảo đảm đúng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội từng thời kỳ theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Khai thác tốt tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai và mọi tiềm lực khác đồng thời bảo vệ môi trường sinh thái, chống tham ô, lãng phí trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Xây dựng theo quy hoạch kiến trúc và thiết kế kỹ thuật được duyệt, bảo đảm bền vững, mỹ quan. Thực hiện cạnh tranh trong xây dựng, áp dụng công nghệ xây 10 dựng tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý và thực hiện bảo hành công trình.3 Các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng Theo điều 62 Luật xây dựng số 50/2014/QH13 [2] quy định thì: Căn cứ quy mô, tính chất, nguồn vốn sử dụng và điều kiện thực hiện dự án, người quyết định đầu tư quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức quản lý dự án sau đây: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực áp dụng đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án theo chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án áp dụng đối với dự án sử dụng vốn nhà nước quy mô nhóm A có công trình cấp đặc biệt; có áp dụng công nghệ cao được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ xác nhận bằng văn bản; dự án về quốc phòng, an ninh có yêu cầu bí mật nhà nước. Thuê tư vấn quản lý dự án đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, vốn khác và dự án có tính chất đặc thù, đơn lẻ.
Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc có đủ điều kiện năng lực để quản lý thực hiện dự án cải tạo, sửa chữa quy mô nhỏ, dự án có sự tham gia của cộng đồng.