CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống kiểm soát nội bộ trải qua bốn giai đoạn bao gồm: Giai đoạn sơ khai, giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển và giai đoạn hiện nay. - Giai đoạn sơ khai: Năm 1929, kiểm soát nội bộ chính thức được đề cập trong Federal Reserve Bulletin(Cục dự trữ Liên Bang Hoa Kỳ) sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929. Từ đó, khái niệm kiểm soát nội bộ và vai trò của kiểm soát nội bộ trong công ty chính thức được công nhận như là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toán viên. Kiểm soát nội bộ lúc bấy giờ được hiểu rất đơn giản là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động.
Luật chứng khoán năm 1933 và Sở giao dịch Chứng khoán năm 1934 cũng đã bắt buộc phải kiểm tra báo cáo tài chính của các công ty theo các nguyên tắc kiểm toán. Trước khi báo cáo COSO (1992) xuất hiện, KSNB được xem như một phương tiện phục vụ cho kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính. Công bố của cục dự trữ liên ban Hoa Kỳ (1929), KSNB là công cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Viện kế toán công chứng Mỹ (AICPA) năm 1936: KSNB là các biện pháp, cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như sự kiểm tra chính xác trong ghi chép sổ sách.
- Giai đoạn hình thành: Năm 1949 AICPA cho rằng: KSNB là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận trong một tổ chức nhằm thực hiện bảo 17 vệ tài sản, kiểm tra độ chính xác và đáng tinh cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, tuân thủ các chính sách của nhà quản lý. Năm 1958 SAP (29) đề cập đến thủ tục kiểm toán. Kiểm soát kế toán bao gồm kế hoạch tổ chức, phương pháp, thủ tục liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của số liệu kế toán. Kiểm soát quản lý thì đề cập những gì liên quan đến tính hữu hiệu trong hoạt động và tuân thủ chính sách nhà quản trị.
Năm 1973 đưa ra 4 mục tiêu kiểm soát kế toán (SAS 1) gồm: Các nghiệp vụ thực hiện phù hợp với sự ủy quyền và xét duyệt của ban giám đốc. Các nghiệp vụ được ghi nhận để lập báo cáo tài chính (BCTC) phù hợp với chuẩn mực kế toán hay các quy định có liên quan và thực hiện trách nhiệm báo cáo. Tiếp cận tài sản chỉ được thực hiện khi có sự cho phép của ban giám đốc. Có biện pháp xử lý thích hợp đối với chênh lệch của báo cáo tài sản được so sánh với tài sản hiện hữu trong thực tế.
- Giai đoạn phát triển: Sau khi xét duyệt lại SAP 54 năm 1973, thì vào năm 1977 Luật chống tham nhũng và chống hối lộ nước ngoài ( Foreign Corrupt Practies Act) viết tắt là FCPA thành lập. Năm 1979, Ủy Ban Chứng Khoán Hoa Kỳ (SEC) bắt buộc các công ty phải báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ với công tác kế toán. Năm 1985 Ủy Ban COSO được thành lập. COSO năm 1985 với tài trợ của Ủy ban Quốc gia về báo cáo tài chính gian lận, sáng kiến khu vực tư nhân độc lập nghiên cứu các yếu tố nguyên nhân có thể dẫn đến báo cáo tài chính gian lận.
Khuyến nghị phát triển cho các công ty nhà nước và kiểm toán viên độc lập, SEC và các nhà quản lý khác, và cho các tổ chức giáo dục. 18 COSO được tổ chức bởi 5 hiệp hội nghề nghiệp lớn có trụ sở tại Hoa Kỳ: Hiệp hội Kế toán Mỹ (AAA), Viện Kế toán Công chứng Mỹ (AICPA), Giám đốc điều hành tài chính quốc tế (FEI), Viện Kiểm toán nội bộ (IIA ), và Hiệp hội Kế toán quốc gia (nay là Hiệp hội kế toán quản trị Hoa Kỳ [IMA]). Hoàn toàn độc lập với nhau của các tổ chức tài trợ, Ủy ban bao gồm đại diện của các ngành công nghiệp, kế toán công cộng, các công ty đầu tư và thị trường chứng khoán New York. Đặc điểm nổi bật của báo cáo COSO là tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, KSNB không chỉ dành cho BCTC mà còn mở rộng cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ.
Chính vì thế COSO đã thay thế kiểm soát nội bộ về kế toán bằng từ Kiểm Soát Nội Bộ, và AICPA không sử dụng từ kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý. Năm 1988 ba yếu tố được đưa vào trong SAS 55 " Xem xét kiểm soát nội bộ trong kiểm toán báo cáo tài chính" là môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán và thủ tục kiểm toán. - Giai đoạn hiện nay: Báo cáo COSO ra đời nhằm đưa ra một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về KSNB và cũng hỗ trợ cho các nhà quản trị kiểm soát công ty một cách tốt hơn. Báo cáo COSO 1992 đã tạo lập được một cơ sở lý thuyết rất cơ bản và được xem là nền tảng về KSNB.
Phát triển về phía quản trị Năm 2001, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp (ERM) trên cơ sở của Báo cáo COSO 1992. Bản dự thảo đã hình thành và được công bố vào tháng 07/2003. Trong bản dự thảo, ERM được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường nội bộ, thiết lập mục tiêu, nhận diện sự kiện, đánh giá rủi ro, đối phó rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông và giám sát. Đến 2004, ERM đã được chính thức ban hành, 19 theo đó ERM không nhằm thay thế cho báo cáo COSO 1992 mà chỉ bổ sung thêm cho báo cáo này.
Phát triển theo hướng công nghệ thông tin ISACA đầu tiên phát hành COBIT vào năm 1996, mục đích của COBIT là “nghiên cứu, phát triển, quảng bá và xúc tiến các mục tiêu của kiểm soát CNTT dành cho các nhà quản lý doanh nghiệp và những người kiểm tra áp dụng vào trong các hoạt động công việc” ban đầu là một tập hợp các mục tiêu kiểm soát để giúp cơ động cộng đồng kiểm toán tài chính tốt hơn trong môi trường liên quan đến CNTT. COBIT ban đầu là "Mục tiêu kiểm soát thông tin và công nghệ liên quan", mặc dù trước khi đưa ra khung công tác, người ta đã nói về "Cobit" là "Mục tiêu kiểm soát đối với CNTT" hoặc "Mục tiêu kiểm soát đối với công nghệ thông tin và công nghệ liên quan" Khung này xác định một tập hợp các quy trình chung để quản lý CNTT, với mỗi quy trình được xác định cùng với các đầu vào và đầu ra của quá trình, các quá trình hoạt động chính, mục tiêu quá trình, các giải pháp thực hiện và mô hình trưởng thành cơ bản. COBIT cũng cung cấp một tập các thực tiễn tốt nhất được đề nghị cho quá trình quản trị và kiểm soát hệ thống thông tin và công nghệ với bản chất của việc liên kết CNTT với kinh doanh. Phát triển chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể.
Báo cáo Basel (1998) của ủy ban basel về giám sát ngân hàng đã đưa ra một số yếu tố về hệ thống kiểm soát nội bộ: + Giám sát điều hành và văn hóa kiểm soát + Nhận biết và đánh giá rủi ro + Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm + Thông tin và truyền thông + Giám sát và sửa chữa những sai sót 20 Phát triển cho doanh nghiệp nhỏ. Năm 2006, xuất bản nội dung COSO kiểm soát báo cáo tài chính, hướng dẫn cho các công ty công cộng nhỏ hơn, tiếp theo hướng dẫn về hệ thống giám sát nội bộ điều khiển, xuất bản năm 2009. Có hiệu lực ngày 15 /12/ 2014, nhỏ hơn hướng dẫn công ty đại chúng năm 2006 cũng được thay thế và không còn nữa. Phát triển theo hướng quốc gia Có một số quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB.
Ví dụ như là báo cáo CoCo 1995 (Canada) và báo cáo Turngull 1999 (Anh). Các báo cáo này có những quan điểm riêng nhưng về tổng thể không có sự khác biệt lớn so với báo cáo COSO 1992. Phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ. Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) định nghĩa các mục tiêu của KSNB bao gồm: độ tin cậy và tính trung thực của thông tin, tuân thủ các chính sách, kế hoạch thủ tục, luật pháp và quy định, bảo vệ tài sản, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, hoàn thành các mục đích và mục tiêu cho các hoạt động hoặc chương trình.
Năm 2013 ban hành bảng cập nhật báo cáo COSO 1992. Báo cáo COSO 2013 được ban hành thay cho báo COSO 1992, trong đó cập nhật các nội dung theo các mục tiêu, mở rộng đối tượng hoạt động và báo cáo, liên kết các nguyên tắc để kiểm soát nội bộ được hiệu quả.2 Khái niệm kiểm soát nội bộ 1. Theo COSO 1992 Theo báo cáo COSO (1992) định nghĩa: "Kiểm soát nội bộ là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị và các nhân sự trong đơn vị, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu, 21 báo cáo tài chính đáng tin cậy, đảm bảo hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, đảm bảo luật lệ và quy định phải được tuân thủ ". Hệ thống KSNB không chỉ là thủ tục hay một chính sách tại một thời điểm nhất định, mà nó được vận hành liên tục trong mọi cấp bậc trong doanh nghiệp.
KSNB được lập ra bởi con người, chính con người đã đặt ra những mục tiêu kiểm soát và thiết lập những cơ chế kiểm soát đó. KSNB được thiết lập chỉ mang tính chất hợp lý, chứ không đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì KSNB không chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập…mà phải bao gồm cả yếu tố con người, Ban Giám Đốc, nhân viên của đơn vị. Báo cáo COSO năm 1992 đưa ra 5 yếu tố cấu thành hệ thống KSNB gồm: + Môi trường kiểm soát + Đánh giá rủi ro + Các hoạt động kiểm soát + Thông tin và truyền thông + Giám sát 1.