Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác xã Chương 2: Thực trạng kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ nghiệp vụ tín dụng tại Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam – Chi nhánh Bắc Ninh. 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG HỢP TÁC XÃ 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về kiểm soát nội bộ Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ: “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong việc ghi chép của sổ sách”.
Theo COSO năm 1992 (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính, “KSNB là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện mục tiêu: (i) Báo cáo tài chính đáng tin cậy; (ii) Các luật lệ và quy định được tuân thủ; (iii) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.” Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS – Basel Committee on Banking Supervision) cũng dựa trên báo cáo COSO 1992 để đưa ra lý thuyết về kiểm soát nội bộ ngân hàng. Báo cáo Basel 1998 đã định nghĩa kiểm soát nội bộ trong ngân hàng như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý cao cấp và nhân viên. Nó không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng. Hội đồng Quản trị, các nhà quản lý cao cấp có trách nhiệm thiết lập một nền văn hóa thích hợp để trợ giúp cho quá trình kiểm soát nội bộ cũng như liên tục giám sát sự hữu hiệu của nó, tuy nhiên mỗi cá nhân trong tổ chức phải tham gia quá trình này.
8 Các mục tiêu chính của kiểm soát nội bộ được phân loại như sau: (i) Các hoạt động hữu hiệu và hiệu quả; (ii)Thông tin tài chính và quản trị đáng tin cậy, đầy đủ và kịp thời; (iii) Tuân thủ pháp luật và các quy định liên quan.” Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”. Luật Kế toán 2015 cho rằng “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra” [Điều 39 Luật Kế toán số 88/2015/QH13, có hiệu lực từ 01/01/2017]. Như vậy, kiểm soát nội bộ là các chính sách, quy trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn được thực hiện ở tất cả các cấp trong ngành ngân hàng.
Hội đồng quản trị và Ban điều hành chịu trách nhiệm thiết lập môi trường thuận lợi cho quá trình kiểm soát nội bộ được hiệu quả và việc theo dõi kết quả của hoạt động kiểm soát. Mỗi cá nhân trong tổ chức đều phải tham gia quá trình đó. Những mục tiêu chủ yếu trong quá trình kiểm soát nội bộ có thể phân loại như sau: - Mục tiêu hiệu lực và hiệu quả hoạt động: đi đôi với sự hữu hiệu và hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản và những nguồn lực khác. Tiến trình kiểm soát nội bộ cũng tìm kiếm sự chắc chắn rằng nhân sự trong tổ 9 chức làm việc để đạt được sự hiệu quả và toàn vẹn, hạn chế chi phí.
- Mục tiêu thông tin: là kịp thời, đáng tin cậy, những báo cáo có liên quan cần thiết cho việc đưa ra quyết định trong tổ chức ngân hàng. Chúng cũng chỉ ra sự cần thiết của những tài khoản định kỳ đáng tin cậy, những báo cáo tài chính và báo cáo cho cổ đông, cho những nhà giám sát và các đối tác bên ngoài. Thông tin cung cấp cho các nhà quản lý, hội đồng quản trị, cổ đông và những nhà giám sát phải hiệu quả , đúng đắn mà những người nhận có thể dựa trên thông tin đó để ra quyết định. - Mục tiêu tuân thủ: đảm bảo chắc chắn rằng tất cả các hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải theo đúng các quy định của pháp luật, yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, và các chính sách và thủ tục các tổ chức.
Mục tiêu này nhằm đảm để bảo vệ quyền lợi và danh tiếng của ngân hàng. Nguyên tắc hoạt động của kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng Nguyên tắc thiết lập kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng - Kiểm soát thủ tục giấy đề nghị vay vốn nhằm đảm bảo rằng mọi hồ sơ đề nghị vay vốn của khách hàng đều được cấp thẩm quyền theo dõi chặt chẽ để ghi nhận việc phân công cho nhân viên tín dụng hoặc nhóm thẩm định thích hợp thực hiện thẩm định khoản vay. - Kiểm soát việc thực hiện tiêu chuẩn cho vay nhằm đảm bảo rằng việc đề xuất cho vay tuân theo đúng tiêu chuẩn và các điều kiện cấp tín dụng. - Kiểm soát việc thực hiện phân tích thông tin tín dụng nhằm đảm bảo thông tin tín dụng được trình bày trung thực, chính xác, được phân tích khách quan, cẩn trọng để làm cơ sở cho cấp xét duyệt quyết định cho vay.
- Kiểm soát kết quả định giá tài sản đảm bảo và xem xét tính hợp lệ của hồ sơ tài sản đảm bảo nhằm bảo đảm rằng việc định giá đã được tiến hành trên cơ sở các căn cứ định giá do ngân hàng đề ra và tài sản đảm bảo đủ tiêu chuẩn nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh. 10 - Kiểm soát thực hiện quyền phán quyết tín dụng nhằm đảm bảo việc xét duyệt cấp tín dụng là đúng thẩm quyền và nằm trong hạn mức xét duyệt đã được phê chuẩn bởi cấp điều hành cao nhất của ngân hàng. - Kiểm soát việc thực hiện các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo và hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo rằng các thủ tục pháp lý đã được tiến hành đầy đủ và không có sự sơ hở nào về mặt pháp lý có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng. - Kiểm soát thực hiện hạn mức tín dụng đã được duyệt nhằm đảm bảo rằng việc giải ngân là hợp lệ vì nằm trong hạn mức tín dụng đã được duyệt và phù hợp với các điều kiện giải ngân đã xác định khi xét duyệt cấp tín dụng.
- Kiểm soát quá trình giám sát tín dụng + Kiểm soát quá trình giám sát việc tuân thủ cam kết trả vốn, lãi vay nhằm đảm bảo rằng việc theo dõi tình hình trả nợ của khách hàng vay vốn diễn ra thường xuyên và đầy đủ. + Kiểm soát quá trình thẩm tra, cập nhật thường xuyên tình hình tài chính, kinh doanh của người vay vốn và việc ghi nhận kết quả thẩm tra trong các biên bản kiểm tra nhằm đảm bảo rằng các thủ tục kiểm tra, giám sát sau cho vay đã được thực hiện đầy đủ và nghiêm túc. - Kiểm soát việc tập hợp các báo cáo về vốn và lãi vay quá hạn nhằm đảm bảo rằng các báo cáo về vốn và lãi vay quá hạn, trễ kỳ được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho các cấp có thẩm quyền và nhà quản trị cấp cao nhất để có những biện pháp ứng phó thích hợp. đây là yếu tố thuộc về thông tin và truyền thông trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
Để đạt được điều này, yêu cầu ngân hàng phải có hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, kịp thời và hệ thống kiểm soát trong môi trường xử lý thông tin máy tính hữu hiệu. - Kiểm soát số liệu báo cáo tín dụng nhằm đảm bảo tính chính xác về thời gian cung cấp kịp thời cho nhà quản lý để phục vụ việc phân tích, giám sát danh mục tín dụng. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG 1. Tín dụng và vai trò của tín dụng trong ngân hàng 1.
Khái niệm tín dụng Ngân hàng được bắt nguồn từ việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sở hữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiền công. Khi xã hội phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàng trở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền. Là trung gian tài chính, ngân hàng huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chính tiền đó cho cá nhân và tổ chức vay lại. Tín dụng là một trong những hoạt động của ngân hàng, hoạt động này mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng.
Thuật ngữ “tín dụng” ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Tín dụng xuất phát từ chữ la tinh là CREDO (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế, tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: Trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ người cho vay sang người đi vay. Trong một quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả giữa hai chủ thể.
Ví dụ, trong hoạt động thương mại một công ty bán hàng trả chậm cho một công ty khác, như vậy người bán đã chuyển giao hàng hóa cho bên mua và theo thỏa thuận, sau một thời gian nhất định bên mua phải trả tiền cho bên bán.