CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển lý thuyết KSNB Trong một quy trình quản trị thì kiểm soát là khâu vô cùng quan trọng, do đó các nhà quản trị thường quan tâm đến việc hình thành và duy trì các hoạt động kiểm soát để đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra.
Cùng với sự phát triển của thực tiễn quản lý trong thời gian qua, khái niệm KSNB đã hình thành và phát triển dần để trở thành hệ thống lý luận về vấn đề kiểm soát trong tổ chức, quản lý, không chỉ phục vụ cho công việc của kiểm toán viên mà còn liên quan mật thiết đến vấn đề quản trị doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức. Để thực hiện tốt chức năng của mình, các nhà quản trị đã sử dụng công cụ chủ yếu là KSNB. Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 khái niệm KSNB được sử dụng trong các tài liệu về kiểm toán. Trên thế giới các công ty kiểm toán xuất hiện đầu tiên đều có nguồn gốc từ Anh quốc, rồi lan rộng sang các quốc gia khác trong những năm cuối thế kỷ 19.
Tại Việt Nam Kiểm toán chính thức xuất hiện từ giữa năm 1991 dưới hình thức các công ty kiểm toán độc lập, đến năm 1994 với Kiểm toán Nhà nước và đến cuối năm 1997 với sự hiện diện của Kiểm toán nội bộ. Hình thức ban đầu của KSNB là kiểm soát tiền và bắt đầu bằng cuộc cách mạng công nghiệp. Do yêu cầu phát triển, các công ty cần có vốn và từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin về sử dụng vốn Thuật ngữ Kiểm soát nội bộ bắt đầu từ giai đoạn này. e 8 Năm 1936, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa kỳ (AICPA - American Institute of Certified Public Accountants) đã định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”.
Tuy nhiên trên thực tế, vào năm 1949, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã công bố công trình nghiên cứu đầu tiên về KSNB với nhan đề “Kiểm soát nội bộ, các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đối với kiểm toán viên độc lập”. Trong báo cáo này, AICPA đã định nghĩa “Kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đáng tin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ các chính sách của người quản lý”. Đến năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP - Committee on Auditing Procedure) trực thuộc AICPA ban hành báo cáo về thủ tục kiểm toán SAP 29 (SAP - Statement on Auditing Procedure) về “Phạm vi xem xét KSNB của kiểm toán viên độc lập” trong đó lần đầu tiên phân biệt kiểm soát nội bộ về quản lý và kiểm soát nội bộ về kế toán. Năm 1962, CAP tiếp tục ban hành Báo cáo về thủ tục kiểm toán 33 (SAP 33) nhằm làm rõ khái niệm về kiểm soát kế toán và kiểm soát quản lý.
Vào những thập niên 1970 - 1980, nền kinh tế nhiều quốc gia trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ, số lượng các công ty tăng nhanh, công tác KSNB được quan tâm. Vào năm 1977, Luật về chống hối lộ nước ngoài ( Foreign Corrrupt Practices act ) ra đời, các báo cáo của Cohen Commission và Financial Executive Institute (FEI ) đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB. Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ ( SEC ) cũng đưa ra các điều e 9 luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức. Năm 1979, Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ ( AICPA ) đã thành lập một ủy ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm đưa ra các hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB.
Từ năm 1985 về sau, sự quan tâm tập trung vào KSNB càng mạnh mẽ hơn. Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính (thuờng gọi là Ủy ban Treadway) được thành lập năm 1985. Báo cáo về các quan sát và khuyến nghị của Ủy ban Treadway đã lưu ý rằng có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau liên quan đến KSNB, do vậy cần có một tổ chức để nghiên cứu về KSNB, nhằm thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau, đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống KSNB hữu hiệu, và đưa ra hướng dẫn nhằm giảm đi sự khác biệt về quan điểm. Vì thế Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organizations) được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp là: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA - Amercican Accouting Association), Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI - Financial Executives Institute), Hiệp hội Kế toán viên quản trị (IMA - Institute of Management Accountants), Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ (IIA - Institute of Internal Auditors) nhằm nghiên cứu về KSNB.
Báo cáo của COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra Khuôn mẫu lý thuyết về kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống. COSO đã định nghĩa đầy đủ về KSNB và dùng từ KSNB thay vì kiểm soát nội bộ kế toán. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ còn là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho tất cả các phương diện hoạt động và tuân thủ. Báo cáo của COSO 1992 tuy chưa thật sự hoàn chỉnh e 10 nhưng đã tạo lập được cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB.
Sau đó, hàng loạt nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời. COSO phát triển về phía quản trị, phát triển cho doanh nghiệp nhỏ, phát triển theo hướng công nghệ thông tin, phát triển theo hướng kiểm toán độc lập, phát triển theo hướng kiểm toán nội bộ, phát triển theo hướng chuyên sâu vào những ngành nghề cụ thể và hướng dẫn về giám sát hệ thống KSNB. Định nghĩa và mục tiêu của hệ thống KSNB. Theo Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính (thành lập năm 1985 theo đề xuất, thống nhất của năm tổ chức: Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ, Hội Kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội các nhà quản trị tài chính, Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ và Hiệp hội kế toán viên quản trị) “KSNB là hoạt động có hiệu lực theo quyết định của các nhà lãnh đạo, quản lý và các cá nhân trong tổ chức, nhằm cung cấp một sự bảo đảm hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu liên quan tới tính hiệu quả và hiệu lực trong vận hành của tổ chức, độ tin cậy của việc báo cáo tài chính, sự phù hợp với các quy tắc và quy định pháp luật”.
Tại Việt Nam, theo Kiểm toán Nhà nước “KSNB là một chức năng của quản lý, trong phạm vi đơn vị cơ sở, KSNB là việc tự kiểm tra và giám sát mọi hoạt động trong tất cả các khâu của quá trình quản lý nhằm đảm bảo các hoạt động đúng luật pháp và đạt được các kế hoạch, mục tiêu đề ra với hiệu quả kinh tế cao nhất và đảm bảo sự tin cậy của báo cáo tài chính”. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 đưa ra khái niệm “KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; để lập báo cáo tài chính trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, và các thủ tục e 11 kiểm soát”. Theo Báo cáo của COSO năm 1992 được công bố dưới tiêu đề KSNB đã định nghĩa về KSNB như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động.
- Sự tin cậy của báo cáo tài chính. - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. Theo định nghĩa trên, có bốn khái niệm quan trọng cần lưu ý, đó là: KSNB là một quá trình; con người; đảm bảo hợp lý và các mục tiêu. Về KSNB là một quá trình: Các hoạt động của đơn vị được thực hiện thông qua lập kế hoạch, thực hiện và giám sát.
Để đạt được mục tiêu mong muốn, đơn vị cần kiểm soát các hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này. Về con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi các nhà quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên trong đơn vị, nó là công cụ phục vụ cho nhà quản lý. Về tính đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được các mục tiêu của tổ chức chứ không thể đảm bảo tuyệt đối. Các mục tiêu: Có thể chia các mục tiêu kiểm soát đơn vị cần thiết lập thành ba nhóm sau: Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn nhân lực.
Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: nhấn mạnh đến tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà tổ chức cung cấp. e 12 Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định. Lợi ích và hạn chế của hệ thống KSNB * Lợi ích - Hạn chế và ngăn ngừa những rủi ro không cần thiết hoặc những thiệt hại không đáng có. - Đảm bảo tính liên hoàn, chính xác của các số liệu tài chính, kế toán, thống kê cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hay đầu tư.