CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM 1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1.1 Khái niệm về kế toán và kế toán quản trị: 1.1 Khái niệm kế toán: Có nhiều định nghĩa về kế toán, các định nghĩa thay đổi theo thời gian và không gian phù hợp với nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ. Năm 1941, Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật dùng để ghi chép, phân loại và tổng hợp theo phương pháp riêng dưới hình thức tiền tệ về các nghiệp vụ, các sự kiện liên quan đến tài chính và giải trình kết quả của việc ghi chép này” (Nguồn: Kế toán quản trị áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam). Đến năm 1996, Hội kế toán Hoa Kỳ (AAA) lại có các khái niệm như sau: “Kế toán là một quá trình nhận diện, tổng hợp, đo lường và truyền đạt thông tin kinh tế để giúp người sử dụng thông tin đó đánh giá và ra quyết định” (Nguồn: Hướng dẫn tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam, năm 1998)[1]. Tại Việt Nam, năm 2003 Nhà nước ban hành Luật kế toán số 03/2003/QH11 ở khoản 1 điều 4 ghi: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.
Phân tích về định nghĩa kế toán trước kia và hiện nay có ba điểm khác biệt sau. Thứ nhất, công việc của kế toán được hiểu rộng hơn là không chỉ ghi chép, phân loại mà còn xử lý và phân tích. Thứ hai là hình thức biểu hiện không chỉ là giá trị tiền tệ mà còn là thông tin kinh tế cụ thể là bằng hiện vật, thời gian lao động, giá trị. Cuối cùng là công việc kế toán không chỉ giải trình kết quả ghi chép mà còn cung cấp thông tin cho người sử dụng ra quyết định.
Tóm lại, kế toán là một môn khoa học, là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin kinh tế hữu ích cho người sử dụng nó. Tuỳ theo đối tượng sử dụng và các yêu cầu thông tin kinh tế, kế toán sẽ thực hiện đáp ứng cho các mục đích tương ứng.2 Khái niệm kế toán quản trị: 4 Theo Luật kế toán Việt Nam “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viện quản trị Hoa Kỳ: “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để thiết lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”. Dựa trên những định nghĩa này, chúng ta nhận thấy vai trò của kế toán quản trị được thể hiện tương ứng với từng chức năng của nhà quản trị như sau: 1.2 Vai trò của kế toán quản trị: Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng hạch toán là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động của đơn vị, các đối thủ cạnh tranh, điều kiện thị trường, thị hiếu khách hàng và sáng kiến kỹ thuật.
Thông tin do kế toán quản trị cung cấp rất quan trọng trong việc truyền đạt và hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn. Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức – điều hành là cung cấp thông tin cho việc xây dựng và phát triển một cơ cấu nguồn lực hợp lý trong doanh nghiệp và những thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp. Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các hoạt động đã và đang được thực hiện để giúp nhà quản trị có thể kịp thời điều chỉnh và tổ chức lại hoạt động của doanh nghiệp. Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng kiểm soát là cung cấp thông tin về tình hình thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán của từng bộ phận trong doanh nghiệp, giúp cho nhà quản trị kiểm soát được việc thực hiện các chỉ tiêu dự toán và đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai.
Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng ra quyết định là thu thập, xử lý và cung cấp thông tin liên quan đến các phương án kinh doanh nhằm giúp cho nhà quản trị lựa chọn được các phương án tối ưu. Đối với các quyết định có tính chiến lược, thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ cho nhà quản trị xác định các mục tiêu đó có thể thực hiện được trên thực tế hay không. Đối với các quyết định tác 5 nghiệp, kế toán quản trị cung cấp những thông tin để giúp ích nhà quản trị ra quyết định về sử dụng các nguồn lực của các tổ chức và giám sát các nguồn lực đó đã và đang được sử dụng như thế nào. Vai trò của kế toán quản trị được thể hiện khác nhau ở mỗi cấp độ quản trị trong tổ chức: Ở cấp độ quản trị cấp cơ sở, kế toán quản trị cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị cấp cơ sở kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lý.
Ở cấp độ quản lý cấp trung gian, kế toán quản trị cung cấp thông tin cho nhà quản trị cấp trung gian giám sát và đưa ra quyết định về các nguồn lực nguyên vật liệu, vốn đầu tư, sản phẩm, dịch vụ và khách hàng. Ở cấp độ quản trị cấp cao, kế toán quản trị cung cấp thông tin đã được tổng hợp từ các nghiệp vụ, sự kiện đã xảy ra theo từng người điều hành, từng khách hàng và từng bộ phận phục vụ cho nhà quản trị cấp cao để hỗ trợ cho họ đưa ra các quyết định trong ngắn hạn và dài hạn.2 Khái niệm và vai trò của kế toán trách nhiệm: 1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm và các trung tâm kế toán trách nhiệm: 1.1 Khái niệm về kế toán trách nhiệm: Theo James R. Martin, “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống cung cấp các thông tin về kết quả và hiệu quả hoạt động của các bộ phận bên trong một doanh nghiệp; là công cụ đo lường; đánh giá hoạt động của các bộ phận có liên quan đến hoạt động đầu tư, doanh thu, chi phí và lợi nhuận mà mỗi bộ phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tương ứng.”… Kế toán trách nhiệm bao gồm ba thành tố chính là con người, trách nhiệm (hay sự phân quyền) và các quy trình hay hệ thống gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Sự vận hành của ba thành tố này tạo ra kết quả của kế toán trách nhiệm: thông qua quản trị.
Như vậy, kế toán trách nhiệm có thể được diễn giải trên ba mặt sau: - Kế toán trách nhiệm là một bộ phận cấu thành kế toán quản trị thông qua sự phân quyền theo cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Sự phân quyền này gắn chặt với trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận trong tổ chức theo những quy trình nghiệp vụ cụ thể. 6 - Kế toán trách nhiệm là một hệ thống cung cấp thông tin đánh giá kết quả hoạt động của từng cá nhân, từng bộ phận trong doanh nghiệp và của toàn thể doanh nghiệp nhằm tối đa hóa kết quả hoạt động kinh doanh hoặc tối ưu hóa các quy trình nghiệp vụ và hoạt động sản xuất kinh doanh. - Kế toán trách nhiệm là một hệ thống trách nhiệm được thiết kế phù hợp theo từng cơ cấu tổ chức ứng với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, môi trường tổ chức hoạt động, mục tiêu, sứ mệnh và các thang giá trị của tổ chức.2 Khái niệm các trung tâm trách nhiệm: - Trung tâm chi phí Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ có quyền ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó.
Thành quả của các trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh. - Trung tâm doanh thu Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó. Thành quả của các trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu thực tế với doanh thu dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh. - Trung tâm lợi nhuận Trung tâm lợi nhuận là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận đạt được trong bộ phận đó.
Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí, nên các nhà quản trị của các trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm cả doanh thu và chi phí phát sinh ở bộ phận đó. Thành quả của các trung tâm lợi nhuận thường được đánh giá bằng việc so sánh các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh dự toán tổng thể và dự toán linh hoạt. - Trung tâm đầu tư Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó. 7 Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng các thước đo: - Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) - Lợi nhuận còn lại (RI) Cơ cấu tổ chức và đánh giá thành quả: Cơ cấu tổ chức của một công ty cho thấy quyền hạn của các nhà quản trị ở công ty đó, nó phản ánh sinh động cấp bậc trách nhiệm đối với mục đích kiểm soát thành quả quản lý của một tổ chức.
Trong hệ thống kế toán trách nhiệm, một mạng lưới thông tin được thiết lập trong một tổ chức thu thập và báo cáo các thông tin về hoạt động của từng trung tâm trách nhiệm. Hệ thống kế toán trách nhiệm được sử dụng để lập các dự toán theo từng trung tâm trách nhiệm và các báo cáo về kết quả thực hiện theo từng trung tâm trách nhiệm. Các báo cáo này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu thông tin riêng biệt của từng nhà quản trị.2 Vai trò của kế toán trách nhiệm: 1.