phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo,. luận văn đƣợc chia làm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến đá granite trên địa bàn tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến đá granite trên địa bàn tỉnh Bình Định e 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP Trong chƣơng này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, bao gồm cơ sở lý thuyết về phân tích hiệu quả kinh doanh và hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh. KHÁI QUÁT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau về thuật ngữ hiệu quả kinh doanh từ các góc độ nghiên cứu khác nhau và sự hình thành phát triển của ngành quản trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngƣời ta có thể chia các quan điểm thành các nhóm cơ bản sau đây: - Nhóm thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh doanh là kết quả thu đƣợc trong hoạt động kinh doanh, tức là doanh thu tiêu thụ hàng hóa. Quan điểm này bắt đầu phát triển từ giữa thế kỷ 18 bởi hai nhà kinh tế có cùng quan điểm là nhà kinh tế học ngƣời Anh - Adam Smith và nhà kinh tế học ngƣời Pháp - Ogiephric. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh doanh và với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh.
Quan điểm này không đề cập đến chi phí kinh doanh, nghĩa là nếu hoạt động kinh doanh tạo ra cùng một kết quả thì có cùng một mức hiệu quả, mặc dù hoạt động kinh doanh đó có hai mức chi phí khác nhau (Phan Đức Dũng, 2008). - Nhóm thứ hai cho rằng, hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả kinh doanh so với phần tăng thêm của chi phí. Quan điểm này nói lên quan hệ so sánh một cách tƣơng đối giữa kết quả đạt đƣợc e 12 và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó, nhƣng lại chỉ xét đến phần kết quả và chi phí bổ sung, Damodar N. Gujarati và Dawn C.
Porter (2008) đã đƣa ra nhận định này. - Nhóm thứ ba cho rằng hiệu quả kinh doanh là một đại lƣợng so sánh giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra để thu đƣợc kết quả đó. Quan điểm này đã phản ánh đƣợc mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn đƣợc kết quả với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Nhóm nghiên cứu thứ ba này thể hiện ở các nghiên cứu của tác giả Ngô Đình Giao (1997).
Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn luôn vận động, nên quan điểm này chƣa biểu hiện đƣợc tƣơng quan về lƣợng và chất giữa kết quả và chi phí. - Nhóm thứ tƣ cho rằng hiệu quả kinh doanh phải thể hiện đƣợc mối quan hệ giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó, đồng thời phản ánh đƣợc trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất. Quan điểm này đã chú ý đến sự so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ vận động của kết quả và tốc độ vận động của chi phí. Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp (Phạm Công Đoàn, 2007).
Nhƣ vậy, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là khái niệm phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất, trình độ tổ chức và quản lí của doanh nghiệp để thực hiện cao nhất các mục tiêu kinh tế xã hội với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gắn chặt với hiệu quả kinh tế của toàn xã hội, vì thế nó cần đƣợc xem xét toàn diện cả về mặt định tính lẫn định lƣợng, không gian và thời gian. Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh doanh phản ánh nỗ lực và trình độ quản lí của doanh nghiệp đồng thời đáp ứng các mục tiêu và yêu cầu của doanh nghiệp và của toàn xã hội về kinh tế, chính trị và xã hội. Về mặt định lƣợng, hiệu quả kinh doanh là biểu thị tƣơng e 13 quan giữa kết quả mà doanh nghiệp thu đƣợc so với chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thu kết quả đó.
Hiệu quả kinh doanh chỉ đạt đƣợc khi kết quả kinh doanh cao hơn chi phí bỏ ra. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao và ngƣợc lại. Cả hai mặt định tính và định lƣợng của hiệu quả kinh doanh đều có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, trong đó hiệu quả về định lƣợng phải gắn với mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội, môi trƣờng nhất định. Do vậy chúng ta không thể chấp nhận việc các nhà kinh tế tìm mọi cách để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế cho dù phải chi phí bất cứ giá nào hoặc thậm chí đánh đổi mục tiêu chính trị, xã hội, môi trƣờng để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế.
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế đƣợc biểu hiện bằng hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trƣng thiết lập trên cơ sở so sánh tƣơng quan giữa kết quả đầu ra với chi phí hoặc các yếu tố đầu vào, qua đó, phản ánh trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào nhằm đạt đƣợc kết quả cao nhất trong điều kiện kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh Theo Nguyễn Văn Công và cộng sự (2002), phân tích hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ các sự vật, hiện tƣợng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật hiện tƣợng đó. Từ đó, khái niệm phân tích hiệu quả kinh doanh có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: phân tích hiệu quả kinh doanh là quá trình sử dụng các kỹ thuật phân tích tác động vào hệ thống chỉ tiêu đã đƣợc xây dựng để đánh giá trình độ sử dụng chi phí hoặc các yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động kinh doanh, tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tƣợng lựa chọn và đƣa ra đƣợc những quyết định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
e 14 Hoạt động phân tích ở đây không chỉ bao gồm việc đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh qua các chỉ tiêu mà còn bao gồm cả việc đánh giá thực chất quá trình biến đổi của các nhân tố; từ đó xác định điểm mạnh, điểm yếu trong hoạt động kinh doanh. Ý nghĩa của hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh thể hiện sự tƣơng quan giữa kết quả đầu ra với các nguồn lực đầu vào sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để đạt hiệu quả kinh doanh cao, doanh nghiệp cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình. Phân tích hiệu quả kinh doanh giúp các đối tƣợng quan tâm đo lƣờng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, đây là yếu tố quyết định tới tiềm lực tài chính trong dài hạn, một trong những mục tiêu quan trọng của hoạt động kinh doanh.
Phân tích hiệu quả kinh doanh cũng giúp các đối tƣợng quan tâm đo lƣờng hiệu quả hoạt động quản lí kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả đầu ra của quá trình hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào năng lực, kĩ năng, sự tài tình và động lực của các nhà quản trị. Các nhà quản trị chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp ra các quyết định về tài chính, đầu tƣ và kinh doanh, xây dựng và thực hiện các chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Sự thành công hay thất bại trong việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp đƣợc thể hiện trực tiếp qua việc phân tích hiệu quả kinh doanh.
Phân tích hiệu quả kinh doanh còn hữu ích trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động doanh nghiệp. Hiệu quả kinh doanh đƣợc phân tích dƣới các góc độ khác nhau và đƣợc tổng hợp từ hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp. Do đó, phân tích hiệu quả kinh doanh là cơ sở để đánh giá và điều chỉnh các hoạt động, các bộ phận cụ thể trong doanh nghiệp và lập kế hoạch kinh doanh theo đúng mục tiêu chiến lƣợc tiếp theo. HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1.
Vai trò và nguyên tắc thiết lập hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh 1. Vai trò của hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh Hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD là một tập hợp các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính đƣợc sử dụng để xem xét, đánh giá HQKD của một doanh nghiệp trên các khía cạnh khác nhau. Để đạt hiệu quả kinh doanh cao doanh nghiệp cần tối đa hóa các kết quả đầu ra trong điều kiện các nguồn lực hạn chế của mình. Phân tích HQKD của doanh nghiệp là một hoạt động có ý nghĩa rất lớn trong việc đánh giá thực chất HQKD của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và dự báo trong dài hạn, là cơ sở giúp lãnh đạo doanh nghiệp đƣa ra các quyết định quản trị, điều hành nhằm đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu của doanh nghiệp.
Đồng thời cũng là nguồn thông tin quan trọng nhất giúp nhà đầu tƣ đánh giá thực chất hoạt động của doanh nghiệp, dự báo những kết quả và rủi ro của doanh nghiệp trƣớc khi cân nhắc quyết định đầu tƣ. Hoạt động này đƣợc đánh giá là hiệu quả khi nó cung cấp những thông tin đánh giá về HQKD của doanh nghiệp một cách kịp thời, đầy đủ và chuẩn xác nhất phục vụ quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tƣ. Để đảm bảo hoạt động phân tích đạt hiệu quả, một trong những nhân tố hết sức quan trọng và có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động phân tích đó là hệ thống chỉ tiêu phân tích HQKD.