chương 1, tác giả đã giới thiệu tổng quan về Sonadezi Long Bình, khái quát sơ bộ quá trình kinh doanh của Công ty từ năm 2017 đến năm 2019, cũng như các sản phẩm chủ yếu là KCN, khu dân cư do Sonadezi Long Bình quản lý và khai thác. Qua phân tích sơ bộ tình hình kinh doanh của Sonadezi Long Bình, cho thấy doanh thu đang dần bão hòa trong khi giá vốn ngày một tăng cao làm cho lợi nhuận giảm dần. Tác giả nhận thấy rằng, đây là giai đoạn quan trọng để Sonadezi Long Bình đánh giá lại hiệu quả kinh doanh của mình trên tất cả các mặt từ tài chính, khách hàng, kinh doanh nội bộ, đào tạo phát triển để đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp, từ đó giúp Sonadezi Long Bình đạt được mục tiêu, chiến lược đề ra. 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ MÔ HÌNH THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 2.1 Lý thuyết về hiệu quả kinh doanh, phân tích hiệu quả kinh doanh.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Có rất nhiều nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau về hiệu quả kinh doanh, tuy nhiên các phát biểu này đều có điểm chung là so sánh giữa kết quả đầu vào với kết quả đầu ra, đánh giá khả năng sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Adam Smith (1723-1790) hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa, còn theo P.A Samuelson và Nordhaus (1989) hiệu quả tức là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người. Theo Gujaratu Damondar (1998) cũng đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh doanh bằng cách so sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả. Ở nước ta có nhiều tác giả nghiên cứu và có ý kiến cho rằng hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết qủa đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo quan điểm của Nguyễn Văn Tạo (2004), hiệu quả kinh doanh không chỉ là mối tương quan giữa chi phí đầu vào với kết quả đầu ra, mà trước tiên phải hoàn thành mục tiêu, nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả, sau đó mới so sánh mục tiêu hoàn thành với nguồn lực mà doanh nghiệp đã sử dụng.
Theo tác giả Bùi Xuân Phong (2013) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu, là thước đo phản ánh trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp nhằm hoàn thành mục tiêu. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh việc sử dụng các nguồn lực sẵn có trong doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh càng cao doanh nghiệp sẽ có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại, áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất… 14 2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ doanh nghiệp tổ chức nào và đó là vấn đề bao trùm, xuyên suốt tất cả các hoạt động của doanh nghiệp. Trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp cho thấy tất cả những đổi mới về nội dung, phương pháp trong quản trị chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi làm tăng hiệu quả kinh doanh.
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có vai trò rất quan trọng được thể hiện trên cả ba mặt sau đây: - Đối với nền kinh tế: Mỗi doanh nghiệp là một mắt xích nhỏ trong nền kinh tế của cả nước. Vì vậ y, v iệc nâng cao hiệu quả kinh doanh của từ ng doanh nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống xã hội. - Đối với doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu sống còn của doanh nghiệp với việc phải tối đa hóa lợi nhuận, cũng tùy thuộc vào môi trường kinh doanh, trình độ công nghệ và trình độ quản lý. Những doanh nghiệp khi kinh doanh hiệu quả sẽ có nhiều cơ hội để tái đầu tư về công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Đối với người lao động: Tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, nâng cao mức thu nhập, cải thiện môi trường điều kiện làm việc. Khi cán bộ nhân viên ổn định cuộc sống thì họ sẽ có điều kiện học tập nâng cao năng lực, công hiến hết mình nâng cao năng suất lao động, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.3 Phân tích hiệu quả kinh doanh 2.1 Khái niệm Phân tích hiệu quả kinh doanh là đi sâu nghiên cứu, phân tích quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, căn cứ số liệu các báo cáo tài chính và phi tài chính bằng phương pháp nghiên cứu thích hợp, phân giải mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế nhằm làm rõ bản chất của hoạt động kinh doanh, nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp (Phạm Văn Dược, Huỳnh Đức Lộng, 2015).2 Ý nghĩa phân tích hiệu quả kinh doanh Phân tích hiệu quả kinh doanh là cơ sở để những nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những quyết định kinh doanh đúng đắn bên cạnh đó giúp cho nhà quản lý đánh giá được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức đối với doanh nghiệp từ đó đưa ra những quyết định và giải pháp phù hợp. Phân tích hiệu quả kinh doanh còn hữu ích trong việc lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá các hoạt động doanh nghiệp để các mục tiêu ngắn hạn dài hạn đi theo đúng sứ mệnh và tầm nhìn mà doanh nghiệp hướng tới. Thông qua phân tích hiệu quả kinh doanh giúp cho các đối tượng bên ngoài đưa ra những quyết định đúng đắn xem xét quyết định việc có nên đầu tư thêm hay rút vốn, các ngân hàng có cơ sở đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay.
Hiện nay, có nhiều phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh và tùy thuộc vào nội dung và mục tiêu mà doanh nghiệp hướng đến. Tuy nhiên, những phương pháp trước đây thường sử dụng thước đo tài chính để phân tích, dữ liệu phân tích được lấy trong quá khứ, vì vậy bộc lộ nhiều khuyết điểm như chỉ đưa ra kết quả trong quá khứ, thiếu đi tính dự báo. Hiện nay thước đo tài chính dần trở nên lạc hậu và không còn phù hợp trong môi trường kinh tế luôn thay đổi. Để đáp ứng nhu cầu, hệ thống BSC ra đời, giúp cho tổ chức chuyển tầm nhìn và chiến lược thành những mục tiêu và thước đo cụ thể để đo lường kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.2 Đánh giá hiệu quả kinh doanh bằng mô hình thẻ điểm cân bằng 2.1 Khái niệm tổng quát về thẻ điểm cân bằng Năm 1990 tại học viện Nolan Norton một nhóm nghiên cứu do David P.Norton điều hành và các cộng sự cùng cố vấn Robert S.Kaplan thực hiên nghiên cứu đề tài “Đo lường hiệu suất hoạt động của tổ chức trong tương lai” với mục đích là thúc đẩy và đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị.
Kết quả nghiên cứu được công bố tóm lược đăng trên tờ báo Harvard Business Review năm 1992 có tên “Thẻ điểm cân bằng - Những thước đo thúc đẩy hiệu quả hoạt động”, Mỗi BSC bao gồm bốn phương diện là: Tài chính, khách hàng, kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển. Mỗi phương diện gắn với nhiều mục tiêu với những thước 16 đo hiệu suất, chúng vừa là công cụ để đánh giá truyền đạt kết quả vừa là công cụ để dẫn dắt, thu hút nỗ lực từ các cấp, để từ đó thực thi thành công các chiến lược. Bốn phương diện chủ yếu diễn giải và trả lời cho các câu hỏi sau: - Phương diện tài chính: Để thành công về mặt tài chính, cần thể hiện trước cổ đông như thế nào? - Phương diện khách hàng: Để đạt được tầm nhìn, cần thể hiện trước khách hàng như thế nào? - Phương diện quy trình nội bộ: Để thỏa mãn cổ đông và khách hàng, cần thực hiện tốt kinh doanh nội bộ nào? - Phương diện học hỏi và phát triển: Để đạt được tầm nhìn, cần duy trì khả năng thay đổi và cải tiến như thế nào? Hình 2.1: Mô hình thẻ điểm cân bằng biến chiến lược thành hành động (Nguồn: Kaplan and Norton, 2003) Theo hình 2.1 trên cho thấy bốn phương diện của thẻ điểm cân bằng đều xuất phát từ sứ mệnh và chiến lược, bốn phương diện này có mối quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau theo quan hệ nhân quả.2 Vai trò của Thẻ điểm cân bằng Thẻ điểm cân bằng đóng vai trò quan trọng, giúp cho doanh nghiệp đánh giá hiệu quả kinh doanh dưới nhiều góc độ khác nhau, qua đó thấy được những khuyết điểm mà doanh nghiệp cần phải hoàn thiện. Hệ thống đo lường Thẻ điểm cân bằng Công cụ trao đổi hệ thống quản lý thông tin Hình 2.2: Vai trò thẻ điểm cân bằng (Nguồn: Kaplan and Norton, 2003) 2.
Thẻ điểm cân bằng là một hệ thống đo lường Thẻ điểm cân bằng là phương pháp chuyển tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp thành những mục tiêu cụ thể bằng việc lập các chỉ tiêu và thước đo. Hệ thống này giúp các phòng ban và nhân viên định hướng được hành vi của mình gắn với mục tiêu chung vào sự phát triển của doanh nghiệp. Những thước đo này thể hiện sự cân bằng giữa bốn khía cạnh là tài chính, khách hàng, kinh doanh nội bộ và đào tạo phát triển. Thẻ điểm cân bằng là một hệ thống quản lý chiến lược Thẻ điểm cân bằng giúp doanh nghiệp định hướng chiến lược tốt hơn: BSC giúp chuyển tầm nhìn và chiến lược của doanh nghiệp thành những mục tiêu, thước đo và những chỉ tiêu cụ thể.
Ví dụ: “đứng đầu trong thị trường sữa” cụ thể hóa bằng 18 các mục tiêu “chiếm 55% thị phần”, “tăng doanh thu 20%” hay tầm nhìn của Sonadezi Long Bình là “Công ty hạ tầng dẫn đầu tỉnh Đồng Nai” cụ thể hóa bằng các mục tiêu “Tỷ lệ hao hụt nước dưới 3%”, “trên 90% khách hàng hài lòng về dịch vụ hạ tầng khu công nghiệp”… Như vậy, BSC làm rõ và cụ thể hóa tầm nhìn và chiến lược thành những mục tiêu cụ thể tới các phòng ban từ đó cụ thể mục tiêu đến từng nhân viên.