Tổng quan nghiên cứu

Xuất khẩu luôn đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2010 - 2012, trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước duy trì mức tăng trưởng ấn tượng từ 11,0% đến 71,0%, thì hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam lại chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng. Điển hình, tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay xuất khẩu năm 2010 sụt giảm 38% và tiếp tục giảm sâu 62,6% vào năm 2012 so với kỳ trước, khiến số lượng khách hàng duy trì quan hệ tín dụng trên toàn hệ thống thu hẹp chỉ còn khoảng 40 doanh nghiệp. Thực trạng này đặt ra bài toán cấp bách về hiệu quả thực thi chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tài chính ngân hàng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, đồng thời nhận diện và lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm tháo gỡ rào cản thể chế, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao năng lực tài trợ xuất khẩu. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào nghiệp vụ cho vay ngắn hạn đối với nhà xuất khẩu Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2013, thu thập dữ liệu thực tế tại Hội sở chính cùng các đơn vị trọng điểm gồm Sở giao dịch II Thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh Ninh Bình, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai và Trà Vinh. Ý nghĩa nghiên cứu gắn liền với việc hiện thực hóa Chiến lược phát triển Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo Quyết định 369/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới nâng mức vốn điều lệ từ 10.000 tỷ đồng lên 20.000 tỷ đồng vào năm 2015 và đạt mốc 30.000 tỷ đồng vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng nền tảng lý luận dựa trên học thuyết về tín dụng Nhà nước và vai trò can thiệp của Chính phủ đối với sự phát triển kinh tế thương mại. Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước được xác định là một phân hệ tài chính đặc thù, hoạt động phi lợi nhuận nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô, hỗ trợ các mặt hàng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Khác với tín dụng thương mại thông thường, tín dụng xuất khẩu chính sách sở hữu các ưu đãi vượt trội về lãi suất thấp hơn thị trường và yêu cầu mức tài sản thế chấp linh hoạt chỉ từ 15% đến 50% giá trị khoản vay, đồng thời cho phép sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản bảo đảm tiền vay.

Hệ thống khái niệm chính được phân định rõ ràng bao gồm: cho vay trước khi giao hàng, cho vay sau khi giao hàng, bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bao thanh toán xuất khẩu. Mô hình nghiên cứu tổng hợp 7 nhóm nhân tố tác động chính: năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu, chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Phát triển, năng lực quản trị ngân hàng, trình độ nghiệp vụ và đạo đức cán bộ tín dụng, trình độ công nghệ ngân hàng, cùng môi trường kinh tế chính trị pháp lý. Nghiên cứu cũng đúc kết bài học thực tiễn từ mô hình ngân hàng chính sách thành công tại Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc thành lập năm 1954 và Ngân hàng Phát triển Trung Quốc thành lập năm 1994 trong việc phân định rõ chức năng cho vay hạ tầng dài hạn với nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu ngắn hạn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy cao. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết giai đoạn 2009 - 2013 của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và niên giám thống kê từ Tổng cục Thống kê. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực tế với kích thước mẫu gồm 43 doanh nghiệp xuất khẩu đã và đang vay vốn cùng 151 cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định tại nhiều chi nhánh trên toàn quốc, thực hiện bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA là nhằm đo lường chính xác tính nhất quán của các thang đo và cô đọng các biến quan sát phức tạp thành các nhóm nhân tố cốt lõi có ý nghĩa thống kê. Khung thời gian nghiên cứu bao quát dữ liệu lịch sử từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2013, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất khuyến nghị chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô hoạt động tài trợ tín dụng xuất khẩu bị thu hẹp đáng kể trong giai đoạn khảo sát. Doanh số cho vay xuất khẩu năm 2010 đạt khoảng 20.210 tỷ đồng, giảm 38% so với năm 2009; năm 2011 đạt khoảng 20.163 tỷ đồng, giảm 0,6%; và năm 2012 sụt giảm nghiêm trọng tới 62,6%. Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu toàn quốc của các mặt hàng thuộc diện ưu đãi vẫn duy trì đà tăng trưởng dương từ 11,0% đến 20,4%, phản ánh sự suy giảm rõ rệt về vai trò đòn bẩy tài chính của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đối với các ngành hàng chủ lực.

Thứ hai, cơ cấu sản phẩm tín dụng còn đơn điệu và tiềm ẩn rủi ro kỳ hạn. 100% dư nợ tín dụng xuất khẩu tại hệ thống là các khoản vay ngắn hạn dưới 12 tháng và được giải ngân hoàn toàn bằng đồng Việt Nam. Các sản phẩm hỗ trợ hiện đại như bao thanh toán, bảo hiểm tín dụng xuất khẩu chưa được triển khai rộng rãi, trong khi hình thức bảo lãnh xuất khẩu bị bãi bỏ sau khi Nghị định 75/2011/NĐ-CP được ban hành thay thế Nghị định 151/2006/NĐ-CP.

Thứ ba, rủi ro nợ quá hạn gia tăng và mức độ tập trung danh mục quá cao. Số lượng khách hàng còn dư nợ trên toàn quốc giảm mạnh chỉ còn khoảng 40 doanh nghiệp. Dư nợ cho vay tập trung phần lớn vào nhóm ngành thủy sản, khiến ngân hàng chịu tổn thất lớn khi thị trường xuất khẩu thủy sản gặp biến động. Mặc dù trong 6 tháng đầu năm 2013, doanh số cho vay tăng 23% và dư nợ tăng 11% so với cuối năm 2012, nợ quá hạn giảm 1,3%, nhưng tỷ lệ hoàn thành kế hoạch dư nợ bình quân do Chính phủ giao chỉ đạt mức khiêm tốn 82%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự suy giảm bắt nguồn từ cơ chế chính sách tín dụng xuất khẩu của Nhà nước chưa theo kịp thực tiễn thị trường. Việc điều chỉnh giảm danh mục mặt hàng ưu đãi tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP và tình trạng ngân sách Nhà nước chậm cấp bù chênh lệch lãi suất đã làm suy giảm nguồn lực tài chính của ngân hàng. Về phía nội tại, Ngân hàng Phát triển Việt Nam còn hạn chế về nền tảng công nghệ thanh toán quốc tế và mạng lưới giao dịch so với các ngân hàng thương mại. Bên cạnh đó, năng lực tài chính yếu kém và việc thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp xuất khẩu đã tạo rào cản lớn trong việc tiếp cận vốn vay chính sách.

Về phương thức trực quan hóa dữ liệu học thuật, sự đối lập giữa xu hướng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu quốc gia và sự sụt giảm doanh số cho vay của ngân hàng có thể được mô tả tối ưu bằng biểu đồ kết hợp cột và đường. Thêm vào đó, việc sử dụng bảng ma trận xoay nhân tố EFA cùng hệ số kiểm định KMO và Bartlett sẽ giúp trình bày rõ nét trọng số tác động của 7 nhóm rào cản, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt bức tranh toàn cảnh về hoạt động cấp tín dụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và đa dạng hóa sản phẩm tài trợ xuất khẩu. Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần chuyển dịch mạnh mẽ từ hình thức cho vay từng lần sang cho vay theo hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp có uy tín, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng dư nợ cho vay theo hạn mức đạt trên 50% trong 2 năm tới. Đồng thời, cần khôi phục và triển khai các gói tín dụng trung và dài hạn hỗ trợ nhà xuất khẩu đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại.

Hai là, tăng cường năng lực tài chính và hoàn thiện cơ chế cấp bù lãi suất. Chính phủ cùng Bộ Tài chính cần ưu tiên bổ sung vốn điều lệ đầy đủ theo lộ trình Quyết định 369/QĐ-TTg, bảo đảm mức vốn đạt 20.000 tỷ đồng vào năm 2015 và 30.000 tỷ đồng vào năm 2020. Cần thiết lập cơ chế điều hành lãi suất linh hoạt bám sát biến động thị trường, cấp bù phí quản lý và chênh lệch lãi suất kịp thời nhằm giải phóng áp lực chi phí vốn cho ngân hàng.

Ba là, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và tăng cường kiểm soát rủi ro nội bộ. Đơn vị cần đầu tư nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin ngân hàng, tích hợp các chuẩn mực thanh toán quốc tế tiên tiến trong giai đoạn 2014 - 2016. Song song với đó, cần hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ từ khâu thẩm định đến giám sát sau giải ngân, quyết tâm kéo giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 3% trên tổng dư nợ.

Bốn là, chuẩn hóa đạo đức nghề nghiệp và nâng cao năng lực đội ngũ nhân sự. Ban lãnh đạo cần tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ tín dụng và thẩm định về phân tích thị trường quốc tế, đánh giá rủi ro hợp đồng ngoại thương và kỹ năng thẩm định phương án kinh doanh xuất khẩu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban lãnh đạo và cán bộ nghiệp vụ tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Luận văn cung cấp bức tranh thực nghiệm sâu sắc về các rào cản quy trình, mô hình chấm điểm tín dụng và phân tích nợ xấu, giúp đơn vị tái cấu trúc chính sách cấp hạn mức và phòng ngừa tổn thất tín dụng hiệu quả.

Thứ hai, Cơ quan quản lý Nhà nước và nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước: Nghiên cứu đóng vai trò là tài liệu tham khảo giá trị để đánh giá hiệu lực thi hành Nghị định 75/2011/NĐ-CP, từ đó hoàn thiện khung pháp lý về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước phù hợp với cam kết thương mại quốc tế.

Thứ ba, Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu: Tài liệu giúp lãnh đạo doanh nghiệp nắm rõ tiêu chuẩn thẩm định, điều kiện ưu đãi về tài sản bảo đảm với tỷ lệ 15% đến 50% và cơ chế vay vốn chính sách, từ đó hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính và xây dựng phương án kinh doanh khả thi.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và chuyên gia nghiên cứu ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng: Công trình mang lại nguồn tư liệu học thuật phong phú, ứng dụng phương pháp phân tích định lượng EFA và Cronbach Alpha trên mẫu khảo sát 151 cán bộ và 43 doanh nghiệp, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về tài trợ thương mại quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và ngân hàng thương mại là gì? Tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam mang tính chất phi lợi nhuận nhằm thực thi chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế của Chính phủ. Do đó, mức lãi suất cho vay luôn được ưu đãi thấp hơn lãi suất thương mại, đồng thời yêu cầu tài sản thế chấp chỉ từ 15% đến 50% giá trị khoản vay, trong khi các ngân hàng thương mại thường yêu cầu bảo đảm tối thiểu 70% đến 100% giá trị vay vốn.

  2. Vì sao doanh số cho vay tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam lại giảm mạnh trong giai đoạn 2010 - 2012? Doanh số cho vay năm 2010 giảm 38% và năm 2012 giảm sâu 62,6% chủ yếu do việc ban hành Nghị định 75/2011/NĐ-CP đã cắt giảm nhiều mặt hàng ưu đãi và bãi bỏ các hình thức bảo lãnh xuất khẩu. Ngoài ra, việc chậm cấp bù chênh lệch lãi suất từ ngân sách cùng với năng lực tài chính suy giảm của doanh nghiệp xuất khẩu sau khủng hoảng kinh tế đã làm hạn chế quy mô giải ngân.

  3. Mẫu khảo sát định lượng trong luận văn được thiết kế và thực hiện như thế nào? Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô mẫu khảo sát gồm 43 doanh nghiệp xuất khẩu đã vay vốn chính sách và 151 cán bộ tín dụng, thẩm định tại các chi nhánh như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm Đồng. Dữ liệu khảo sát được kiểm định độ tin cậy qua thang đo Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA nhằm xác định các yếu tố cản trở hoạt động tín dụng.

  4. Cơ cấu kỳ hạn và tiền tệ cho vay tín dụng xuất khẩu tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam có đặc điểm gì? Hiện nay, 100% dư nợ tài trợ xuất khẩu tại đơn vị đều là các khoản vay ngắn hạn với thời hạn vay tối đa không quá 12 tháng và hoàn toàn giải ngân bằng đồng Việt Nam. Các hình thức tài trợ trung dài hạn để đầu tư đổi mới công nghệ hoặc cho vay bằng ngoại tệ hầu như chưa được triển khai do hạn chế về nguồn vốn huy động.

  5. Chiến lược phát triển đề xuất mục tiêu tài chính cụ thể nào cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam? Theo định hướng tại Quyết định 369/QĐ-TTg được phân tích trong luận văn, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cần được bổ sung vốn điều lệ từ mức 10.000 tỷ đồng lên 20.000 tỷ đồng vào năm 2015 và đạt 30.000 tỷ đồng vào năm 2020. Mục tiêu này nhằm củng cố năng lực tài chính, mở rộng hạn mức cho vay và kiểm soát nợ quá hạn xuống dưới 3%.

Kết luận

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế của tác giả Trần Thị Thắm đã cung cấp một công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa và giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận cùng thực tiễn cấp bách về tín dụng tài trợ xuất khẩu chính sách tại Việt Nam:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và phân tích bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc từ Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc và Ngân hàng Phát triển Trung Quốc.
  • Phản ánh trung thực thực trạng suy giảm doanh số cho vay từ mức 20.210 tỷ đồng năm 2010 xuống mức thấp kỷ lục năm 2012 cùng áp lực gia tăng của tỷ lệ nợ quá hạn trên toàn hệ thống.
  • Xác định và kiểm định thành công 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng thông qua nghiên cứu định lượng trên mẫu khảo sát 151 cán bộ và 43 doanh nghiệp xuất khẩu.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ từ đa dạng hóa sản phẩm cho vay hạn mức đến hiện đại hóa công nghệ thanh toán quốc tế trong giai đoạn 2014 - 2016.
  • Đề xuất các kiến nghị vĩ mô thiết thực giúp Chính phủ hoàn thiện khung khổ pháp lý và tăng vốn điều lệ ngân hàng lên 30.000 tỷ đồng đến năm 2020.

Để hiện thực hóa các định hướng trên, Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng các cơ quan quản lý cần khẩn trương phối hợp triển khai lộ trình tái cơ cấu trong giai đoạn 2014 - 2020, trọng tâm là hoàn thiện cơ chế cấp bù lãi suất và kiểm soát chất lượng tín dụng. Bạn đọc, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác quản trị thực tiễn và hoạch định chiến lược kinh doanh xuất khẩu hiệu quả.