Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng TMCP Á Châu ACB – chi nhánh Đông Đô Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại ngân hàng TMCP Á Châu chi nhánh Đông Đô. 3 1 ƯƠ Ơ Ở LÝ LUẬN VỀ Ô Á Đ ẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC NGÂN HÀNG ƯƠ ẠI 1. Nguồn nhân l c tạ á gâ à g ươ g mại 1.
Khái quát về hoạt động của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa.
Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ. trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng. Theo Pháp lệnh Ngân hàng số 38 - LTC/HĐNN8 ngày 24/05/1990 quy định: NHTM là: “tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Chính vì vậy đặc điểm nguồn nhân lực của NHTM hầu hết hội tụ các yếu tố như sau: Kĩ năng giao tiếp tốt Người làm trong lĩnh vực ngân hàng phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi giao tiếp với khách hàng.
Do đó, nhân viên phải có khả năng giao tiếp tốt, có thái độ cư xử nhẹ nhàng, nhã nhặn với khách hàng. Bởi đây là ngành dịch vụ, những người làm ngân hàng sẽ đại diện cho hình ảnh của cơ quan, tổ chức đó. Nếu phục vụ không tốt, khách hàng có thể tìm đến nơi khác. Việc giao tiếp tốt là yếu tố mang tính quyết định đến hướng đi cũng như khả năng phát triển, thăng tiến của bản thân trong nghề.
Biết lắng nghe và kiểm soát cảm xúc tốt 4 Vì thường xuyên phải tiếp xúc với khách hàng, do đó, nhân viên ngân hàng lúc nào cũng giữ thái độ vui vẻ, hòa nhã. Khi khách có nóng giận hoặc thúc giục công việc, hoặc chưa hiểu để diễn đạt ý của mình thì nhân viên cần phải biết lắng nghe, kiên nhẫn giải đáp, tránh nóng giận. Hoặc nhiều khi nhân viên buồn bực về vấn đề cá nhân, nhiều khi lại “giận cá chém thớt” lên khách hàng. Việc không kiểm soát tốt cảm xúc sẽ ảnh hưởng đến khách hàng, ảnh hưởng đến công việc.
Và điều đó cho thấy bạn là một người thiếu chuyên nghiệp. Trung thực, thật thà Đây là một ngành có cơ hội được tiếp xúc khá nhiều với tiền bạc. Do đó, trung thực là một yêu cầu không thể thiếu với người làm trong ngành này. Việc gian lận, biển thủ công quỹ có thể khiến cho cá nhân không thể tiếp tục với nghề, thậm chí, nếu nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến bị kiện ra tòa và lãnh án tù.
Chịu được áp lực cao Ngành ngân hàng có sự cạnh tranh và đòi hỏi sự tập trung cao độ. Do đó, nhân viên phải chuẩn bị cho mình một “tinh thần thép”, độ tập trung cao, chịu được áp lực công việc thì mới có thể trụ vững với nghề. Bởi nếu như nhân viên lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, tinh thần không thể tập trung thì rất dễ mắc lỗi và phải chịu hậu quả nặng nề cho sai lầm đó. Nắm vững kiến thức khối ngành kinh tế, tài chính, tiền tệ, kế toán Nhân viên không thể ra ngoài làm việc mà lại không có kiến thức gì trong tay.
Vì các công việc trong ngành ngân hàng liên quan đến tiền tệ nên bắt buộc phải biết các kiến thức cơ bản cũng như chuyên ngành về kinh tế, tài chính, tiền tệ, kế toán. Nghiệp vụ cơ bản tốt Nhà trường sẽ là nơi cung cấp kiến thức từ cơ bản đến chuyên sâu cho cá nhân về ngành Tài chính – Ngân hàng. Tuy nhiên, việc áp dụng những kiến thức lí thuyết đó vào thực tế công việc hay không lại tùy thuộc vào mỗi người. Người có nghiệp vụ cơ bản tốt là người biết áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn một cách linh hoạt và thông minh, giúp tăng hiệu quả công việc lên mức cao nhất.
Khái niệm nguồn nhân lực trong ngân hàng thương mại * Khái niệm về nguồn nhân lực: 5 - Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội hay nói cách khác là tất cả thành viên của NHTM phải sử dụng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử, đạo đức cá nhân để duy trì và phát triển NHTM. Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực. - Thể lực: là sức khỏe của thân thể phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, chế độ làm việc,. Thểlực con người phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi,… - Trí lực: là sự hiểu biết, suy nghĩ, khả năng tiếp thu kiến thức, năng khiếu của bản thân cũng như quan điểm, tư tưởng, nhân cách,… của mỗi người.
- Tâm lực: là sức mạnh về ý chí con người và nó được thể hiện qua thái độ, tác phong làm việc cũng như phong cách, lối sống cùng đồng nghiệp trong tổ chức. Nguyễn Vân Điềm và PGS. TS Nguyễn Ngọc Quân thì “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là Nguồn nhân lực của con người mà nguồn lực này có thể lực và trí lực” (Giáo trình “Quản trị nhân lực”, đại học Kinh tế quốc dân – năm 2016) - Theo Bùi Văn Nhơn nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Như vậy, nếu xét trong phạm vi một NHTM, ta có thể hiểu NNL là toàn bộ những người tham gia hoạt động lao động của NHTM, họ hoạt động vì mục tiêu và lợi ích của NHTM đó.
Vai trò của nguồn nhân lực tại ngân hàng thương mại. Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong NHTM thể hiện như sau: Hoạch định: NNL là nhân tố trực tiếp tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược, thiết lập các kế hoạch, chương trình, dự án, xây dựng các quy trình nghiệp vụ, các quy tắc ứng xử, là nền tảng định hướng cho toàn bộ các hoạt động trong NHTM. Vận hành: Nguồn nhân lực chính là chủ thể vận hành hệ thống, điều khiển hạ tầng công nghệ, thực thi các kế hoạch theo quy trình đã định; làm việc với cơ 6 quan nhà nước, với đối tác và các khách hàng, tương tác với đồng nghiệp, kiểm soát các dòng luân chuyển tiền tệ và các nguồn lực khác thuộc trách nhiệm quản lý của NHTM. Phát triển: NNL với khả năng vận động tự thân kết hợp với chính sách phát triển nguồn nhân lực của tổ chức, liên tục thay đổi để thích nghi với môi trường mới, công nghệ mới; đặc biệt thông qua đó bồi dưỡng lên những cá nhân ưu tú, những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực tài chính, là kế cận cho sự phát triển bền vững của NHTM.
Hội nhập: là năng lượng để từng bước kết tinh các giá trị văn hóa doanhh nghiệp, xây dựng và gìn giữ thương hiệu và bản sắc của NHTM. Chúng ta có thể thấy rằng, cũng giống như ở hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề khác của cuộc sống, nguồn nhân lực luôn là động lực, là mục tiêu cho sự phát triển cho NHTM hiện tại và trong tương lai. Đào ạo và phát triển nguồn nhân l ro g gâ à g ươ g mại. Khái niệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Vào những năm 80 của Thế kỷ trước đã xuất hiện thuật ngữ phát triển nguồn nhân lực và được sử dụng rộng rãi.
Đào tạo và phát triển được định nghĩa là những nỗ lực của tổ chức nhằm nâng cao các kiến thức, kỹ năng, thái độ của NLĐ nhằm đáp ứng các nhu cầu của công việc trong hiện tại và tương lai theo giáo trình Human Resource development (Werner & DeSimone,2012). Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của tác giả Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Văn Điềm (2015), đào tạo và phát triển là các hoạt động để duy trì và nâng cao chất luộng nguồn nhân lực của tổ chức. Trong đó, Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho NLĐ có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học tập làm cho NLĐ nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động để nâng cao trình độ, kỹ năng của NLĐ để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Phát triển là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của NLĐ, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Chung quy lại, các định nghĩa được đưa ra dành cho khái niệm đào tạo và phát triển đều thống nhất rằng đào tạo và phát triển phải là một hệ thống với các 7 hoạt động đã được lên kế hoạch do các tổ chức thiết kế dựa trên cơ sở nguồn lực, mục tiêu của tổ chức, nhằm cung cấp cho các thành viên của tổ chức đó cơ hội được học hỏi các kỹ năng cần thiết để đáp ứng nhu cầu công việc trong hiện tại và tương lai. Nguyên tắc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Để có một đội ngũ cán bộ, nhân viên giỏi, có đủ trình độ và năng lực trong hoạt động trong hệ thống NHTM thì công tác đào tạo nhân lực cần phải dựa trên một số nguyên tắc sau đây: Thứ nhất, nhân viên nào cũng cần có khả năng phát triển toàn diện. Do đó, mọi cá nhân tại NHTM đều phải phát triển và phải thường xuyên trau dồi kỹ năng, kinh nghiệm của mình để theo kịp thời đại.