CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO CÔNG CHỨC 1.Một số khái niệm cơ bản 1.Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm có trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhằm để chỉ những người làm việc thường xuyên trong bộ máy Nhà nước và được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, khái niệm công chức ở các quốc gia cũng có nhiều điểm khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử văn hoá, hệ thống chính trị, cơ cấu bộ máy Nhà nước, cơ chế quản lý kinh tế xã hội, quan niệm về công vụ của từng nước mà phạm vi công chức mỗi nước cũng khác nhau: Luật Công chức Cộng hòa Liên bang Đức năm 1977 quy định: “Các công chức Cộng hòa Liên bang Đức đều là những nhân viên làm việc trong cơ quan Nhà nước, trong các cơ quan, tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia gồm: nhân viên các tổ chức công, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước, các công chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ, nhân viên lao động công, giáo sư đại học, giáo viên trung học hay tiểu học, bác sĩ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe lửa…”(Phạm Hồng Thái, 2004, tr. Theo Điều lệ tạm thời về công chức Nhà nước của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, “công chức Nhà nước bao gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo và phải thông qua một chế độ tuyển dụng hết sức nghiêm ngặt. Chức danh không lãnh đạo (công chức nghiệp vụ) bao gồm: Cán sự, chuyên viên, chuyên viên tổ trưởng, chuyên viên tổ phó, trợ lý chuyên viênn ghiên cứu, chuyên viên nghiên cứu, trợ lý chuyên viên thanh tra, chuyên viênthanh tra.
Chức danh lãnh đạo gồm: Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó thủ tướngQuốc vụ viện; chức Trưởng, phó cấp bộ, cấp tỉnh; chức phó cấp vụ, cấp sở;trưởng, phó phòng (trong các vụ, sở, huyện); Tổ trưởng, tổ phó; Trưởng, phócấp xã”(Phạm Hồng Thái, 2004, tr. Hiện nay, Trung quốc đã bỏ chế độ công chức theo chức nghiệp mà chuyển sang công chức theo chế độ hợp đồng. Quy định trên cho thấy phạm vi khái niệm công chức theo Luật Cộng hòa Liênbang Đức cũng như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có điểm hẹp hơn so với khái niệm này trong pháp luật nước ta. Sở dĩ vậy là vì phạm trù công chức của ta 7 không giới hạn trong phạm vi nền hành chính nhà nước mà nó bao hàm cả hệ thống chính trị.
Ở nước Pháp, “Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệmvào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền vàcác tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nước tổ chức, bao gồm cả trung ươngvà địa phương nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hộiđồng thuộc địa phương quản lý”(Tô Tử Hạ và công sự, 1993, tr. Ở Việt Nam, công chức là một thuật ngữ được dùng từ rất sớm trong quản lý Nhà nước. Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã quy định về quy chế công chức Việt Nam. Tại Điều 1 nêu khái niệm công chức là: “những công dân Việt Nam được chính quyềnnhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.
Do hoàn cảnh kháng chiến sau đó, mặc dù không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được áp dụng. Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, chúng ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, lấy người cán bộ làm trung tâm. Theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp Nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”. Khái niệm này dùng chung cho tất cả mọi người làm việc cho nhà nước, không có sự phân biệt nên đội ngũ này rấtđông đảo và phạm vi làm việc của họ cũng rất rộng.
Thực tế trên đã gây khó khăn, thiếu thống nhất cho công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. Để cụ thể hoá Pháp lệnh cán bộ, công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/02/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ- CP, ngày 17/11 /1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Theo Nghị định này, công chức là “công dân Việt Nam, trong biên chếvà hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, bao gồm những người được tuyểndụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loạitheo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hànhchính, sự nghiệp; những 8 người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quânđội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”. Lúc này, phạm vi và đối tượng đã được thu hẹp lại hơn so với trước nhưng vẫn bao gồm cả khu vực hành chính Nhà nước, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể.
Những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp Nhà nước, lực lượng vũ trang thì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân Việt Nam. Với quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, các tiêu chí: là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước mới chỉ là những căn cứ để xác định một người có phải là “cán bộ, công chức” hay không. Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa được phân biệt và giải quyết triệt để. Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998, Nhà nước đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp.
Việc phân định này đã tạo cơ sở để đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan Nhà nước với cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Nhưng đến thời điểm này, vấn đề làm rõ thuật ngữ “công chức” và thuật ngữ “viên chức” cũng chưa được giải quyết. Điều này đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến cơ chế và các quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của CBCC. Để khắc phục hạn chế của các văn bản đó, ngày 13/11 /2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII, đã thông qua Luật cán bộ, công chức.
Đây là một văn bản pháp lý cao nhất từ trước đến nay đã thu hẹp phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng so với Pháp lệnh cán bộ công chức, cụ thể là sẽ không điều chỉnh viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập (đối tượng không thuộc bộ máy quản lý, lãnh đạo) và cắt nghĩa một cách rõ ràng hơn về khái niệm công chức. Tại Khoản 2, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức quyđịnh: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vàongạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhànước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhânchuyên nghiệp, công an nhân dân mà 9 không phải là sĩ quan, hạ sĩ quanchuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp cônglập của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội”. Công chức ngành Hải quan Theo quyết định số 65/2015/QĐ-TTG: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính, tại Điều 1, Vị trí và chức năng của Tổng cục Hải quan: Tổng cục Hải quan là tổ chức trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về hải quan và tổ chức thực thi pháp luật về hải quan trong phạm vi cả nước. Tổng cục Hải quan có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng tại kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội.
Theo quyết định trên và từ khái niệm CBCC có thể thấy: - CBCC ngành Hải quan là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong hệ thống Hải quan Việt Nam từ Trung ương xuống địa phương; - CBCC ngành Hải quan hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Do vậy, CBCC ngành Hải quan là cán bộ CBCC sự nghiệp thuộc hệ thống cán bộ, CBCC của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chịu sựđiều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Bộ Luật lao động. Khái niệm về đào tạo công chức Đào tạo được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm trang bị kiến thức cho người học một cách hệ thống để nâng cao năng lực, chuyên môn, đủ khả năng công tác độc lập theo yêu cầu nhiệm vụ được giao. Hay nói một cách khác, đào tạo được xem như một quá trình làm cho người được đào tạo trở thành người có kiến thức và năng lực theo tiêu chuẩn nhất định đề ra.
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2000, Tập 1, tr.735: Đào tạo là "quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnhhội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.một cách có hệ thốngnhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận được một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triểnxã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”. 10 Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo CBCC, Đảng ta đã chủ trương: “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức với chươngtrình, nội dung sát hợp. Có chương trình, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại vàbồi dưỡng thường xuyên cán bộ, công chức nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.