CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. TIỀN LƯƠNG VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TÁC TIỀN LƯƠNG 1. Một số khái niệm a. Lao động, người lao động + “Lao động là quá trình con người sử dụng sức lao động kết hợp với công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội”.
108] Để thảo mãn nhu cầu vật chất và tinh thần không ngừng tăng lên, con người có nhu cầu lao động thực sự. Lao động đã sáng tạo ra con người và cũng là nhu cầu trong sự tồn tại của nó. Lao động được coi là một hình thức của sự tôn kính, những giáo phái và thầy tu coi lao động ngang bằng với đạo đức, giá trị và sự trinh tiết. Các yếu tố xã hội cũng đã làm tăng sự gắn bó của con người với lao động.
Những người công nhân cùng với lao động đã tạo nên tập thể gắn bó và hiểu biết lẫn nhau. Nhờ có lao động, người ta có thể kiếm được thu nhập để trang trải cho các nhu cầu của mình. + “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước”.
Tiền lương, bản chất của tiền lương “Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. [12] Luan van 5 Tiền lương là khoản thù lao trả cho cán bộ, công nhân viên tương xứng với lao động và trình độ nghiệp vụ, chức trách để thực hiện những công việc được giao. Ở Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, phụ khoản khác, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo công việc làm của người lao động. Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc; bất luận là dùng tiền lương, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả họ theo ngày, tháng, theo sản phẩm.
Ở Nhật Bản, tiền lương bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãi hoặc bằng những tên gọi khác, là chỉ thù lao lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân. 243] “Theo Tổ chức Lao động Quốc tế, tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc hoặc dịch vụ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện”. [10] “Theo Các Mác, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động, là giá cả của hàng hóa sức lao động. Tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân là giá cả của sức lao động.
Bản chất của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bên ngoài thành giá trị hay giá cả của lao động”. 27] Theo quan điểm của cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế Luan van 6 thị trường. Tiền lương của người lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác. Từ những vấn đề trên, có thể hiểu khái niệm tiền lương như sau: Tiền lương là giá trị mà người sử dụng lao động trả cho người lao động (hoặc người lao động nhận được của người sử dụng lao động), có thể biểu hiện bằng tiền, hàng hóa,.
được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động bằng luật pháp, pháp quy quốc gia, theo một hợp đồng lao động; bằng văn bản hay bằng miệng cho một công việc, một dịch vụ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện với những yêu cầu nhất định về số lượng và chất lượng công việc, dịch vụ đó. Ở Việt Nam hiện nay, chế độ tiền lương còn nhiều bất cập. Tại Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã nêu một số mục tiêu, nguyên tắc chính sách tiền lương, đồng thời nhấn mạnh một số điểm: - Tiếp tục quán triệt và thực hiện quan điểm của Đảng: “Coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để kinh tế phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước”. Từ đó, nghiên cứu thực hiện các giải pháp có tính đột phá trong tạo nguồn cho cải cách chính sách tiền lương.
- Cải cách chính sách tiền lương phải tiến tới bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội. Trên cơ sở đó, hình thành các cơ chế tiền lương (hành chính, sự nghệp, doanh nghiệp) ngày càng phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tạo động lực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Cơ cấu của tiền lương Cơ cấu tiền lương là các bộ phận hợp thành tiền lương theo một cách phân loại nhất định, có mối quan hệ qua lại với nhau được biểu hiện thông qua tỷ trọng của từng bộ phận so với tổng thể tiền lương. Cơ cấu tiền lương bao gồm: Lương cơ bản, phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi.
Để hiểu rõ hơn về cơ cấu tiền lương, chúng ta đi vào tìm hiểu vấn đề này ở nội dung của việc trả lương cho người lao động. Ý nghĩa của công tác trả lương cho người lao động Tiền lương có quan hệ trực tiếp và có ý nghĩa quyết định đối với việc bồi dưỡng thể lực, trí lực và kích thích tính tích cực, tự giác của người lao động. Do đó chính sách tiền lương cần phải hợp lý nhằm phát huy nhân tố nguồn lực con người để cải biến thực trạng sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh, đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao. Vì bảo đảm lợi ích vật chất cho người lao động - như V.Lênin nói - “là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”.
35] - Đối với người lao động, tiền lương là bộ phận cực kỳ quan trọng để tái sản xuất sức lao động; đối với người sử dụng lao động, tiền lương là một trong các khoản mục của chi phí sản xuất, là khoản mục đầu tư cho phát triển. Đối với Nhà nước, tiền lương là công cụ để điều tiết nền kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển toàn diện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Do đó, tiền lương cần đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động và ngày càng được tăng lên theo sự phát triển và tăng trưởng của nền sản xuất xã hội. Tiền lương là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động.
Tiền lương là vấn đề thiết thực và là động lực kinh tế cơ Luan van 8 bản của mọi người lao động. Nếu tiền lương quy định đúng đắn, phản ánh hài hòa các mối quan hệ, nhất là quy luật phân phối theo lao động thì nó sẽ là nhân tố kích thích, thúc đẩy mọi người ra sức lao động, công tác, học tập nhằm nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng cải tiến phương thức để nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công tác, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ. 224] - Đối với doanh nghiệp, công tác trả lương hợp lý có tác dụng thu hút nhân viên, duy trì những nhân viên giỏi; hạn chế hiện tượng chảy máu chất xám; kích thích động viên nhân viên và đáp ứng các yêu cầu của luật pháp. Hình thức trả lương hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo năng suất, chất lượng của sản phẩm, giá thành cạnh tranh; sự an toàn của công việc là sản phẩm tốt, chất lượng được khách hàng chấp nhận; quan hệ lao động trong doanh nghiệp được cải thiện.
223] - Về mặt xã hội, chính sách tiền lương thể hiện quan điểm của Nhà nước đối với người lao động ở các doanh nghiệp, phản ánh cung cầu về sức lao động trên thị trường, điều kiện kinh tế và tỷ lệ lao động thất nghiệp trên thị trường, chế độ ưu đãi khuyến khích khác nhau theo vùng và địa lý. Tiền lương là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động. Vì vậy để sử dụng đòn bẩy tiền lương nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao với ý thức kỷ luật vững, đòi hỏi công tác tổ chức trả lương trong doanh nghiệp phải được coi trọng. 224] Tổ chức trả lương trong doanh nghiệp được thực hiện công bằng và hợp lỹ sẽ tạo nên bầu không khí hài hòa cởi mở giữa những người lao động với nhau, tạo tinh thần đoàn kết, thống nhất trên dưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển doanh nghiệp và vì lợi ích của bản thân họ.
Vì vậy mà Luan van 9 người lao động tích cực làm việc bằng cả nhiệt tình hăng say và họ có quyền tự hào mức lương họ đạt được. Ngược lại, khi công tác tổ chức trả lương trong doanh nghiệp thiếu tính công bằng và hợp lý thì không những nó sẽ đẻ ra những mâu thuẩn nội bộ thậm chí khá gay gắt giữa những người lao động với nhau, giữa người lao động với các cấp quản trị, cấp lãnh đạo doanh nghiệp, mà có lúc có nơi còn gây nên sự phá hoại ngấm ngầm dẫn đến sự lãng phí, thất thoát lớn trong sản xuất.