CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TRONG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. TIỀN LƯƠNG VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Khái niệm và chức năng của tiền lương [1], [2], [4], [5], [9], [18], [20, [21] a. Khái niệm Tiền lương có thể có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao động, v.v… hiện nay trên thế giới, khái niệm về tiền lương rất đa dạng.
Mỗi một nước, một tổ chức có cách hiểu riêng về tiền lương. - Ở Pháp, tiền lương là các khoản thù lao hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản phụ khác được trả trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động. - Đài Loan coi tiền lương là tất cả các khoản thù lao mà người lao động nhận được do làm việc; bất luận lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng dưới các danh nghĩa khác để trả cho người lao động theo giờ, ngày tháng, theo sản phẩm. - Nhật Bản tiền lương là tất cả các khoản lương bổng, tiền được chia lãi hoặc những tên gọi khác chỉ thù lao cho lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho lao động.
- Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan niệm tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo hợp đồng lao động được viết ra hay bằng Luan van 8 miệng, cho người lao động đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm. - Theo quan điểm cải cách tiền lương của nước ta năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường. Tiền lương do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Từ những cách nhìn nhận trên về tiền lương, có thể hiểu khái niệm tiền lương như sau: Tiền lương là giá trị mà người sử dụng lao động trả cho người lao động (hoặc người lao động nhận được từ người sử dụng lao động), có thể biểu hiện bằng tiền, hàng hóa,… được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động bằng luật pháp, quy pháp quốc gia theo một hợp đồng lao động; bằng văn bản hay bằng miệng cho một công việc, một dịch vụ đã thực hiện hay phải thực hiện với những yêu cầu nhất định về số lượng, chất lượng công việc và dịch vụ đó.
Chức năng Tiền lương thực chất là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một thoả thuận nào đấy dựa trên những quy định của nhà nước. Song tiền lương lại là lợi ích vật chất mà người lao động nhận được để nuôi sống bản thân và gia đình của họ, duy trì quá trình tái sản xuất tự nhiên và xã hội. Do đó chức năng và vai trò của tiền lương rất quan trọng. Tiền lương có các chức năng sau: - Tiền lương thực hiện chức năng là thước đo giá trị mà đó là giá trị sức lao động.
Biểu hiện tiền lương phải phản ánh được sự thay đổi của giá trị, khi Luan van 9 giá trị thay đổi thì tiền lương phải thay đổi theo. Tiền lương thực hiện chức năng này là cơ sở để điều chỉnh giá cả cho phù hợp mỗi khi giá cả biến động - Tiền lương phải đảm bảo chức năng tái sản xuất sức lao động. Tái sản xuất sức lao động bao gồm cả tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, tức là tiền lương mà người lao động nhận được không chỉ đủ nuôi sống bản thân và gia đình người lao động mà còn dành một phần để học tập nâng cao trình độ. Tiền lương là cơ sở để kích thích sản xuất.
Muốn thực hiện chức năng này tiền lương phải đủ lớn để kích thích người lao động hăng hái làm việc. Tổ chức tiền lương phải làm như thế nào để phân biệt được người làm tốt, người làm chưa tốt để trả lương. Tiền lương phải đảm bảo chức năng tích luỹ để dành. Về nguyên tắc tiền lương không những đảm bảo tái sản xuất sức lao động mà một phần của tiền lương còn phải để tích luỹ phòng những lúc bất trắc, những cái không bình thường xảy ra như ốm đau, bệnh tật.
và còn để cho những thời gian không lao động, sau lao động. Muốn thực hiện được chức năng này thì tiền lương phải lớn hơn tiêu dùng. Các khái niệm liên quan [1], [2], [4], [5], [9], a. Lương tối thiểu Lương tối thiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.
Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt nhằm bảo đảm cho người lao động bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Điều 7 – Bộ luật lao động quy định “người lao động được trả lương trên cơ sở thỏa thuận với người sử dụng lao động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do nhà nước quy định”. Tiền lương danh nghĩa Tiền lương danh nghĩa là số lượng tiền tệ mà người lao động nhận được từ kết quả lao động hàng tháng của mình. Số tiền này ít hay nhiều phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc và trình độ thâm niên… ngay trong quá trình lao động.
Tiền lương thực tế Tiền lương thực tế được biểu hiện bằng số lượng hàng hóa, dịch vụ cần thiết mà người lao động có thể trao đổi được thông qua tiền lương danh nghĩa của mình. Do đó, tiền lương thực tế không chỉ liên quan đến tiền lương danh nghĩa mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào sự biến động của giá cả hàng hóa và các công việc phục vụ. Tiền lương cơ bản Tiền lương cơ bản được xác định trên cơ sở tính đủ các nhu cầu cơ bản về sinh học, xã hội học, mức độ phức tạp và mức độ tiêu hao sức lao động trong những điều kiện lao động trung bình của từng ngành nghề, công việc. Quỹ tiền lương Quỹ tiền lương là tổng số tiền dùng để trả lương cho người lao động ở cơ quan, doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Hệ thống tiền lương trong Công ty Cổ phần [9], [18], [20, [21] a. Ngạch lương Ngạch lương là việc lập nhóm các công việc tương tự nhau nhằm đơn giản hóa thủ tục ấn định lương. Bậc lương Bậc lương bao gồm mức lương tối thiểu và mức lương tối đa với sự biến thiên đủ để tạo ra một sự khác biệt nào đó. Điều chỉnh mức lương Là điều chỉnh số tiền thu được cho phù hợp với các ngạch, bậc lương Luan van 11 tương ứng.
Vai trò của công tác trả lương trong các doanh nghiệp [9], [18], [20, [21] a. Về mặt kinh tế Tiền lương đóng vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong việc ổn định, phát triển của doanh nghiệp và kinh tế gia đình của người lao động.Về mặt chính trị xã hội Tiền lương phải được đảm bảo các yếu tố cấu thành và tạo nên nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của người lao động và gia đình họ là điều kiện để người lao động hưởng lương hòa nhập vào thị trường lao động xã hội. NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Quy trình thiết lập hệ thống tiền lương trong doanh nghiệp [4], [5], [9], [18], [20, [21] Quy trình thiết lập hệ thống tiền lương bao gồm 4 bước sau: - Bước 1: Phân tích công việc.
- Bước 2: Định giá công việc. - Bước 3: Phân ngạch công việc. - Bước 4: Xác định bậc lương và mức lương. Phân tích công việc Phân tích công việc là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng một hệ thống tiền lương, nhằm thu thập thông tin chi tiết về vị trí của 1 công việc cụ thể.
Có nhiều cách để thu thập thông tin chi tiết này, trong đó mỗi cách đều phải kết hợp kiến thức, sự quan sát và kết quả phỏng vấn. Các thông tin đã thu thập được sử dụng để soạn thảo bản mô tả công việc và bản yêu cầu chuyên môn rõ ràng, hoàn chỉnh.Việc mô tả công việc căn cứ vào các thông tin sau: - Nhiệm vụ chính của các chức danh công việc. Luan van 12 - Nhiệm vụ phụ. - Việc soạn thảo bản yêu cầu chuyên môn căn cứ vào các thông tin: + Trình độ học vấn cần thiết.
+ Kinh nghiệm làm việc cần thiết. + Kiến thức, kỹ năng cần thiết. + Yêu cầu về thể chất, điều kiện làm việc cần thiết. Định giá công việc Định giá công việc là đo lường giá trị và tầm quan trọng của công việc dựa trên nhiều yếu tố.
Công việc là một yếu tố chính quyết định và ảnh hưởng đến tiền lương và đãi ngộ. Vì vậy, các công ty luôn quan tâm đến việc định giá công việc. Trên cơ sở phân tích công việc, tiến hành định giá công việc để xác định những vị trí công việc tương tự nhau có thể được tập hợp thành nhóm làm cơ sở xác định thang lương, bảng lương cho mỗi nhóm. Các bước đánh giá giá trị công việc như sau: * Lập danh sách các yếu tố công việc theo nhóm yếu tố công việc chủ yếu về: + Kiến thức và kỹ năng; + Trí lực; + Thể lực và cường độ lao động; + Môi trường; + Trách nhiệm.
Trong mỗi nhóm yếu tố công việc, doanh nghiệp xác định cụ thể các yếu tố thành phần theo các mức độ từ thấp đến cao. Các yếu tố công việc là cơ sở để so sánh giữa các vị trí công việc trong doanh nghiệp. * Lựa chọn các vị trí để đánh giá: trên cơ sở danh sách các yếu tố công việc, đánh giá giá trị công việc cho từng vị trí riêng biệt trong doanh nghiệp, Luan van 13 đồng thời so sánh các yêu cầu chuyên môn của từng vị trí.