CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG 1. Các khái niệm Tiền lương là một phạm trù kinh tế thuộc lĩnh vực quan hệ sản xuất và nó giữ một vai trò quan trọng trong công tác quản lý, trong đời sống và cả về mặt chính trị xã hội. Tiền lương có nhiều tên gọi khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao động, tiền công, … Hiện nay, có nhiều quan niệm về tiền lương: Tiền lương của người lao động là do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Tiền lương có thể có các tên gọi khác nhau như thù lao, thu nhập từ lao động… Ở Pháp, sự trả công được hiểu là tiền lương, hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, các khoản phụ khác, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật, mà người sử dụng lao động trả cho người lao đọng theo công việc làm của người lao động. Ở Đài Loan, tiền lương chỉ mọi khoản thù lao mà người công nhân nhận được do làm việc, bất luận là dùng tiền lương, lương bổng, phụ cấp có tính chất lương, tiền thưởng hoặc dùng mọi danh nghĩa khác để trả họ theo ngày, tháng, theo sản phẩm. Ở Nhật Bản, tiền lương bất luận được gọi là tiền lương, lương bổng, tiền được chia lãi hoặc bằng những tên gọi khác, là chỉ thù lao lao động mà người sử dụng lao động chi trả cho công nhân [8, tr.272-273] Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào, mà có thể biểu hiện bằng tiền Luan van 8 và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc hoặc dịch vụ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”. Theo quan điểm của cải cách tiền lương năm 1993, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa người sử dụng lao dộng và người lao dộng phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao dộng trong nền kinh tế thị trường [8, tr.273] Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động, nó là giá trị của sức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người cung ứng lao động.
Giá này được hình thành thông qua quan hệ cung cầu trên thị trường và đúng với khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, về bản chất tiền lương được xem là giá cả của sức lao động, nó là một phạm trù thuộc yếu tố chi phí. Do đó, tiền lương được định nghĩa như là giá trị mà người sử dụng lao động trả cho người lao động (hoặc người lao động nhận được của người sử dụng lao động), có thể được biểu hiện bằng tiền, hàng hóa,… được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động bằng luật pháp, pháp quy quốc gia, theo một hợp đồng lao động; bằng văn bản hay bằng miệng cho một công việc, một dịch vụ đã thực hiện hay sẽ phải thực hiện với những yêu cầu nhất định mà hai bên thống nhất với nhau về số lượng, chất lượng, thời gian thực hiện cũng như tiền lương khi hoàn thành xong công việc, dịch vụ đó. Ý nghĩa của công tác trả lương Tiền lương đóng vai trò quan trọng mang tính quyết định đến sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp cũng như kích thích tính tích cực, tự giác của người lao động.
Do đó, công tác trả lương trong doanh nghiệp phải được Luan van 9 thực hiện một cách công bằng và hợp lý để tạo nên bầu không khí thân thiện, cởi mở giữa những người lao động với nhau, nâng cao tinh thần đoàn kết, phát huy tối đa nhân tố nguồn lực con người. Tiền lương là yếu tố cơ bản để quyết định thu nhập tăng hay giảm của người lao động, quyết định mức sống vật chất của người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp. Vì vậy, việc trả lương cho người lao động cần phải thể hiện một cách công bằng, chính xác, đảm bảo được quyền lợi cho người lao động từ đó tạo ra sự kích thích, phát huy hết tiềm năng bên trong họ, thúc đẩy họ làm việc hăng say đem lại kết quả tốt cho doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói chính sách tiền lương đúng đắn sẽ tạo nên một cú hích mạnh mẽ kích thích cũng như phát huy tài năng, sáng kiến, tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình của người lao động tạo thành động lực làm việc, ngược lại việc trả lương không công bằng, thiếu tính minh bạch sẽ thủ tiêu lòng nhiệt huyết của người lao động, thui chột ý chí phấn đấu của họ, thậm chí họ sẽ có cảm giác bị bỏ rơi và sẽ từ bỏ đơn vị mình đang công tác để tìm đến một đơn vị khác mà theo họ là họ sẽ nhận được sự đãi ngộ xứng đáng hơn.
Mặt khác, tiền lương cũng được xem như là chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh của mình. Vì thế, tiền lương chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong ngân sách của doanh nghiệp, việc cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp và người lao động là vô cùng quang trọng. Như vậy, để đạt được mục tiêu tối thiểu hoá chi phí, tối đa hoá lợi nhuận và đảm bảo cao nhất quyền lợi của người lao động thì công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải mang ý nghĩa phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người lao động và đồng thời giúp các nhà quản lý sử dụng quỹ tiền lương có hiệu quả nhất tức là giúp doanh nghiệp làm ăn có lãi, chất lượng sản phẩm được khách hàng chấp nhận, quan hệ lao động trong doanh nghiệp được cải thiện và bên cạnh đó, là thu hút được nhân viên giỏi; Luan van 10 hạn chế hiện tượng chảy máu chất xám; kích thích động viên nhân viên và đáp ứng các yêu cầu của luật pháp. Ngoài ra, chính sách tiền lương cũng thể hiện quan điểm của Nhà nước đối với người lao động ở các doanh nghiệp, nó phản ánh cung cầu về sức lao động trên thị trường, điều kiện kinh tế và tỷ lệ lao động thất nghiệp trên thị trường, chế độ ưu đãi khuyến khích khác nhau theo vùng và địa lý.
Tiền lương là một trong những hình thức kích thích lợi ích vật chất đối với người lao động. Vì vậy, sử dụng đòn bẩy tiền lương nhằm đảm bảo sản xuất phát triển, duy trì đội ngũ lao động có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ cao, ý thức kỷ luật vững, đòi hỏi công tác tổ chức trả lương trong doanh nghiệp phải được coi trọng [18, tr. Tóm lại, công tác trả lương trong doanh nghiệp rất quan trọng, nó có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp cũng như của toàn xã hội. Để có một chính sách tiền lương hợp lý và kịp thời thì ban lãnh đạo các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi sát sao từng bước trong công tác trả lương để từ đó biết lắng nghe nguyện vọng của người lao động và phát hiện kịp thời các lỗ hổng trong công tác trả lương của mình để mà sửa đổi hoặc bổ sung, có làm như vậy thì việc trả lương mới phát huy hết được ý nghĩa của nó trong việc tạo ra một bầu không khí làm việc đầy nhiệt huyết tại doanh nghiệp, làm cho người lao động tự hào về những gì mình làm được và hưởng được từ thành quả lao động của chính mình.
NỘI DUNG CỦA CÔNG TÁC TRẢ LƯƠNG 1. Chính sách trả lương của doanh nghiệp - Chính sách trả lương là cách thức, biện pháp trả lương của doanh nghiệp đối với người lao động, những đối tượng khác nhau tùy theo loại lao động, ngành nghề, trình độ chuyên môn nhằm mục đích khuyến khích người lao động thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Luan van 11 - Trong thực tế mỗi doanh nghiệp có những mục tiêu khác nhau trong việc xây dựng một chính sách tiền lương, và có thể các thứ tự ưu tiên các mục tiêu cũng không giống nhau. Nhưng nhìn chung thì các mục tiêu cần phải đạt được trong việc xây dựng một hệ thống tiền lương bao gồm: + Thu hút được các nhân viên tài năng: Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được một nguồn nhân lực cao để tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi của môi trường.
Thu hút được những nhân viên tài năng về làm việc cho tổ chức luôn là một mục tiêu hàng đầu trong chính sách nhân sự của các tổ chức. Để thực hiện mục tiêu này, tiền lương là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình. Các nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp trả lương người lao động cao hơn mức trung bình trên thị trường thường thành công hơn trong kinh doanh, bởi họ thu hút được nguồn nhân lực tốt hơn, tạo ra động lực mạnh hơn. + Duy trì được đội ngũ nhân viên giỏi: Sự thành công của tổ chức phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ nhân viên, đặc biệt là những người tài năng.
Đội ngũ nhân viên giỏi giúp tổ chức duy trì thế cạnh tranh và thậm chí họ là những người tạo ra những đột phá cho sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, việc thu hút tài năng là chưa đủ mà tổ chức còn phải nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm giữ chân đội ngũ nhân viên giỏi. Nhất là trong điều kiện khắc nghiệt của thương trường, cạnh tranh về nguồn nhân lực ngày càng trở nên gay gắt thì các tổ chức luôn coi trọng việc bảo vệ nguồn tài sản quý báu của tổ chức mình. + Kích thích động viên nhân viên nâng cao năng suất lao động.
+ Kiểm soát được chi phí: Chi phí lao động chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi phí của một tổ chức, nên nó ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức đó cung ứng cho xã hội. Chi phí lao động phải Luan van 12 được xác định ở mức cho phép tổ chức đó tăng tối đa hiệu suất của mình trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nghĩa là vẫn đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ về mặt giá cả.