CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM PHỤC VỤ QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 1. VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TÍNH GIÁ THÀNH ĐỐI VỚI QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 1. Đặc điểm quản trị chi phí sản xuất Quản trị chi phí sản xuất là phương pháp, cách thức của nhà quản lí trong hoạch định kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và những quyết định mang tính chất quản lí để vừa làm tăng giá trị đồng thời giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ. Theo tác giả Thái Thị Thu Hiền [1, tr9], Quản trị chi phí bao gồm các nội dung: - Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy động tối ưu cho Công ty trong từng thời kỳ.
- Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một cách hợp lý đối với Công ty, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ Công ty và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động, xác định phần lợi nhuận còn lại từ sự phân phối này để đưa ra các quyết định về mở rộng sản xuất tạo điều kiện cho Công ty có mức độ tăng trưởng cao và bền vững. - Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong Công ty, tránh tình trạng sử dụng lãng phí sai mục đích. Theo tác giả Ninh Trần Nam [3, tr14], quản trị chi phí trong doanh nghiệp bao gồm bốn chức năng: Lập kế hoạch chi phí; Tổ chức thực hiện chi phí; Ghi chép và phản ánh vào sổ sách kế toán các khoản chi phí phát sinh trong thực hiện; Phân tích đánh giá và ra quyết định. Luan van 9 Để có thể quản trị được chi phí sản xuất thì các nhà quản trị cần kế toán chi phí và giá thành sản phẩm cung cấp thông tin về chi phí phục vụ chức năng quản trị, yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý.
Ngoài ra, còn cung cấp thông tin về chi phí ước tính cho các sản phẩm, dịch vụ hoặc các đối tượng khác theo yêu cầu của nhà quản lý nhằm giúp họ ra các quyết định quan trọng về sản xuất, cơ cấu sản phẩm sản xuất cho các hoạt động của doanh nghiệp. Tóm lại, quản trị chi phí cần kế toán chi phí và giá thành cung cấp các thông tin chi phí để nhà quản lý kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch thông qua các báo cáo đánh giá, đặc biệt là giúp ích cho các nhà quản lý trong việc kiểm soát chi phí để tính giá thành một cách chính xác và nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạt động. Việc cung cấp thông tin về chi phí một cách chi tiết và thường xuyên sẽ giúp ích cho nhà quản lý rất nhiều trong kiểm soát và hoàn thiện quá trình sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ vì những thông tin này giúp các nhà quản lý phát hiện các hoạt động tốn kém chi phí đó hoặc có những cải tiến làm cho hoạt động đó có hiệu quả hơn, tốn kém chi phí ít hơn. Ngoài ra, còn cung cấp thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp cũng như quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, hay quyết định ngừng sản xuất.
Trong một số tình huống đặc biệt, các thông tin về chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, nhất là trong các trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường. Bên cạnh đó, để quản trị chi phí có thể nhận diện được chi phí theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định thì quản trị chi phí cần thông tin chi phí phát sinh thông qua hệ thống thông tin chi phí được cung cấp theo các Luan van 10 trung tâm chi phí được hình thành trong các đơn vị. Bởi vì, bộ phận quản trị chi phí sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến động như thế nào đến giá thành khi có sự thay đổi của một hay một số nhân tố nào đó, bộ phận nào chịu trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí và đưa ra giải pháp điều chỉnh một cách kịp thời. Điều này cho thấy quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận quản trị doanh nghiệp thực hiện xử lí và cung cấp các thông tin về chi phí sản xuất nhằm thực hiện các chức năng quản trị.
Vai trò của công tác tính giá thành sản phẩm đối với quản trị chi phí sản xuất Trong công tác quản trị chi phí sản xuất thì giá thành là một trong những chỉ tiêu quan trọng luôn được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm. Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tập hợp được, nhà quản lý có thể luôn biết được hoạt động và kết quả thực tế, từ đó đề ra các biện pháp có hiệu quả, kịp thời nhằm hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, đề ra các quyết định phù hợp với phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Chỉ tiêu giá thành sản phẩm phản ánh chi phí đã bỏ vào sản xuất. Chỉ tiêu giá thành là thước đo mức hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động sản xuất, từ đó giúp nhà quản trị lựa chọn và quyết định khối lượng sản phẩm sản xuất ra nhằm đạt lợi nhuận tối đa.
Giá thành cũng là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả của các biện pháp tổ chức kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện giá thành, các nhà lãnh đạo quản lý có được những thông tin về tình hình sử dụng vật tư, lao động, tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động và hiệu quả thực hiện các biện pháp kỹ thuật đến sản xuất, phát hiện và tìm các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ. Giá thành còn là một căn Luan van 11 cứ quan trọng để xây dựng chính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm và đóng vai trò quan trọng trong công tác quản trị chi phí. [3, tr12] Tóm lại, tổ chức tốt công tác tính giá thành sản phẩm, đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành sản phẩm, lượng giá trị các yếu tố chi phí sản xuất đã được chuyển dịch vào sản phẩm đã hoàn thành có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong công tác quản trị chi phí sản xuất của doanh nghiệp và là yêu cầu cấp bách của nền kinh tế thị trường.
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 1. Khái niệm Trong sản xuất kinh doanh chi phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí đã chi ra. Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản trong quá trình sản xuất. Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sản phẩm”.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định. Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp. Các loại giá thành sản phẩm - Giá thành toàn bộ: Là phương pháp tính đầy đủ chi phí tham gia trong quá trình sản xuất sản phẩm gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung đều được tính vào giá thành của sản phẩm hoàn thành, không có sự phân biệt giữa các chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi.
Với định phí sản xuất chung là chi phí sản Luan van 12 phẩm. Phương pháp tính giá thành toàn bộ gồm 2 hệ thống tính giá thành sản phẩm: hệ thống tính giá thành theo công việc và hệ thống tính giá thành theo quá trình sản xuất. [3, tr25] Giá thành được tính theo phương pháp này thì cung cấp thông tin có ích phục vụ cho quản trị chi phí tại Công ty. Chẳng hạn, như việc các nhà quản lý ra quyết định giá bán sản phẩm phải bù đắp được chi phí và có lợi nhuận định mức.
Một lý do để nhà quản trị áp dụng phương pháp này để xác định chi phí là có rất nhiều doanh nghiệp sử dụng hệ thống thông tin kế toán tài chính để ra các quyết định quản lý, đặc biệt là khi hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí có thể không tuân thủ theo các nguyên tắc chung của kế toán nên tùy theo mục đích sử dụng thông tin về giá phí sản phẩm sản xuất mà nhà quản trị có thể thêm hoặc bớt một số khoản chi phí khi tính giá thành sản phẩm sản xuất. Tuy nhiên phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu cho các nhà quản trị trong việc lập các kế hoạch linh hoạt đáp ứng nhu cầu thông tin về chi phí đơn vị trong các tình huống quy mô sản xuất khác nhau và các quyết định về giá bán sản phẩm với mức sản lượng khác nhau. - Giá thành trực tiếp: Là phương pháp tính giá thành sản phẩm, với việc xác định chi phí sản xuất chỉ tính các chi phí sản xuất biến đổi gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung biến đổi vào giá thành của sản phẩm hoàn thành. Với phần định phí sản xuất chung là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí kinh doanh ngay khi phát sinh.
[3, tr26] Với phương pháp tính giá thành này, khi mà chi phí sản xuất được chia thành yếu tố khả biến và bất biến, thì sẽ cung cấp thông tin hữu ích phục vụ cho công tác quản trị chi phí, chẳng hạn: phiếu tính giá thành được xây dựng theo cách ứng xử của chi phí nên nó phù hợp với mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà quản lý đưa ra các quyết Luan van 13 định mà không cần nghiên cứu thêm các tài liệu chi phí.