Chương 1: Cơ sở lý luận về thẩm định dự án dau tư tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định dự án dau tư vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Thành pho Thanh Hóa giai đoạn 2017 - 2020 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án dau tư vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chỉ nhánh Thành phố Thanh Hóa CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THÂM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khai niệm Ngân hàng thương mai Ngân hàng thương mại là một tô chức tài chính quan trọng trong nền kinh tế. NHTM không chỉ tồn tại ở một quốc gia mà ở khắp các quốc gia trên thế giới.
Do đó mà khái niệm về NHTM rất đa dạng. Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cho rằng: “Những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng vào các nghiệp vụ chiết khấu tín dụng hay tài chính thì được coi là Ngân hàng”. Theo luật pháp Mỹ: “Bat kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (như bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”. Sau đó, để phân biệt ngân hàng với các tô chức tài chính khác, Cục dự trữ liên bang (FED) đã đưa ra quyết định răng: “Việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình cũng là một trong những hoạt động ngân hàng tiêu biểu”.
Ở Việt Nam, căn cứ theo Điều 4, Luật các TCTD (2010): “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nham mục tiêu lợi nhuận. Cũng theo luật này, Khoản 12 Điều 4 cho răng: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên một hoặc một số các dịch vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Như vậy, tổng hợp các khái niệm trên ta có thé hiểu một cách khái quát NHTM là một tô chức đặc biệt kinh doanh tiền tệ thông qua hai hình thức chính là huy động và tín dụng, ngoài ra NHTM cũng thực hiện một số dịch vụ khác theo yêu câu của khách hàng. Vai trò va chức năng của Ngân hàng thương mại NHTM đóng vai trò quan trong trong mỗi nền kinh tế, thé hiện thông qua các dịch vụ mà nó cung câp.
Đầu tiên, NHTM góp phan nâng cao hiệu quả huy động va sử dụng vốn của nên kinh tế. Hệ thống ngân hang là một kênh huy động vốn chính và hiệu quả, đáp ứng phần lớn nhu cầu vốn chính đáng của các cá nhân và tô chức trong nền kinh tế. Hơn nữa, hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng luôn phải trải qua những quy trình thấm định, giám sat chặt chẽ, giảm thiểu được phần lớn rủi ro. Thứ hai, NHTM là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ.
Một nguồn tài chính quan trọng của Chính phủ dùng đề đầu tư và phát triển đến từ tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng thực hiện các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ, góp phần phát triển kinh tế bền vững. Thứ ba, NHTM thúc day sản xuất và tiêu dùng phát triển, thể hiện qua việc ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp. Cuối cùng, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho toàn xã hội.
Ngân hàng đảm bảo các quỹ tiền tệ an toàn, quá trình thanh toán diễn ra thông suốt, góp phần tiết kiệm chi phí của toàn xã hội. Các hoạt động chính của Ngân hang thương mai 1. Huy động vốn Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM. Khi một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thé huy động ở một số nguồn chính như : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mượn và một số nguồn khác.
* Huy động từ chủ sở hữu: Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh doanh được thê hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ôn định cao, NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM (liên doanh, liên kết, mở rộng mang lưới,. Các NHTM thường huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành cổ phiếu, trái phiếu được chuyên đổi thành cô phiếu, nhận vốn cấp phat của Ngân sách Nha nước,.
Nhìn chung việc huy động dưới hình thức nào là do tính chất sở hữu của NHTM quyết định. * Huy động từ tiền gửi: Nguồn vốn từ chủ sở hữu thường có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chi được quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những người gửi tiền.
Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thê huy động dưới các hình thức sau: -Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi hoàn toàn theo mục đích khả dụng. Mục đích của khách là muốn sử dụng các tiện ích của NHTM cung ứng. NHTM có nhiệm vụ phải chỉ trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu. - Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự tham thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng.
Trong thời gian này ngân hàng có quyền chủ động sử dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trước hạn phải được sự đồng ý của ngân hàng. - Tiền gửi tiết kiệm: Đây là một bộ phận thu thập bằng tiền của các cá nhân tạm thời nhàn rỗi được gửi vào NHTM dưới nhiều hình thức: Tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiêt kiệm mua nhà,. Với mục đích chủ yêu là tiệt kiệm va sinh lời.
* Nguôn vay mượn: Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chỉ trả của khách hàng, các NHTM có thé sử dụng nghiệp vụ đi vay ở Ngân hàng trung ương, ở các NHTM khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tô chức nước ngoài,. Vốn đi vay thông thường chiếm tỷ trọng không lớn trong kết cau nguồn vốn. Tuy nhiên, nó rất cần thiết và có vi tri quan trọng để đảm bảo cho Ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường. * Huy động từ các nguồn khác: Ngoài một số nguồn cơ bản trên thì NHTM có thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ.
uy tín của NHTM là cơ sở quan trọng dé mở rộng nguồn vốn này. Sử dụng vốn Huy động được vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc đề hiệu quả hoá những nguồn vốn huy động được. Với mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lời, hoạt động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: Dự trữ, Cho vay và Đầu tư. * Dự trữ: Dự trữ là nghiệp vụ nhăm duy trì khả năng thanh toán của ngân hang dé đáp ứng nhu cầu chỉ trả cho khách hàng.
NHTM phải duy trì một bộ phận vốn ( bằng tiền mặt) dé thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào qui mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi trả tiên mặt. Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư. Chúng được hình thành bởi các nguồn: Tiền mặt tại két của NHTM, Tiền gửi tại Ngân hàng trung ương, Tiền gửi ở các TCTD, Tiền đang trong quá trình thu.
* Cho vay: Cho vay là nghiệp vụ chủ yêu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Nguồn thu từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín dụng có thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng như : Xây dựng chiến lược sai, Thâm định hồ sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc,. cũng có thé do nguyên nhân khách quan như: hoa hoạn, lũ lụt,.
Hoạt động cho vay liên quan chặt chẽ với tat cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu ding đến sản xuất kinh doanh. Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cau về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu như: Cho vay ngắn hạn, Cho vay trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,. * Đầu tư: Hoạt động này bao gồm đầu tư chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác: - Đầu tư chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi nhuận tương đối lớn ( sau cho vay).
Trong trường hợp chưa tìm ra khách hàng đáng tin cậy dé cho vay thì đầu tư chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách hữu hiệu nhất cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM cần phân tích kỹ lưỡng trước khi lựa chọn loại chứng khoán nào dé đầu tư. - Ngoài ra, NHTM có thể đầu tư nhằm mục đích sinh lợi bằng nhiều hình thức khác như góp vốn liên doanh, đầu tư vào trang thiết bi,.
Hoạt động môi giới trung gian Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu nhập khá quan trọng. Điều cần lưu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM phát triển toàn diện. ở các nước phát triên, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng con đường “ phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng.
Dich vu Ngân hàng càng phát triển thé hiện xã hội công bằng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển.