PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng càng được chú trọng và đầu tư để diện mạo đất nước ngày càng không ngừng đổi mới. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng, và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình ở nước ta trong thời gian tới. Quản lý dự án (Project Management – PM) là một quá trình phức tạp, bao gồm công tác hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những khía cạnh của một dự án và kích thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt.
Nói một cách khác, Quản lý dự án (QLDA) là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của Dự án nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra. Trước bối cảnh đó, Ban QLDA Nông nghiệp và PTNT Nghệ An cần tìm kiếm những mô hình tổ chức và quản lý khác nhau để tồn tại và phát triển. Điều đó nghĩa là Ban quản lý dự án phải tính toán và tìm cách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đảm bảo việc quản lý khoa học, hợp lý. Từ những phân tích trên, với những kiến thức được học tập và nghiên cứu ở Nhà trường cùng với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác tại cơ quan nghiên cứu, tác giả chọn đề tài luận văn với tên gọi: “ Hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và Nông nghiệp và phát triển nông thôn Nghệ An”.
Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp có tính khả thi, có cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm tăng cường hơn nữa hiệu quả công tác quản lý dự án tại Ban NAPMU nói chung và áp dụng các giải pháp này cho một dự án cụ thể. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài a. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý trong các dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban NAPMU và những nhân tố ảnh hưởng đến thành quả và chất lượng của công tác này. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Phạm vi về mặt không gian và nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình tại Ban NAPMU.
Phạm vi về mặt thời gian: luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý dự án của Ban NAPMU từ năm 2013 đến 2016 và đề xuất giải pháp quản lý dự án cho giai đoạn mới. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: + Phương pháp điều tra thu thập thông tin; + Phương pháp kế thừa, áp dụng mô hình quản lý thông qua sách báo và thông tin Internet nhưng có chọn lọc; + Phương pháp thống kê, phân tích tính toán, tổng hợp số liệu; + Phương pháp khảo sát thực tế; + Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy như: Nghị định, Thông tư, Luật xây dựng của nhà nước; + Phương pháp tiếp cận thông tin dự án.TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Tổng quan về dự án đầu tư xây dựng 1. Công trình xây dựng 1.
Khái niệm về công trình xây dựng Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. CTXD bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. Đặc điểm của công trình xây dựng + CTXD có quy mô, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất xây lắp kéo dài. + CTXD cố định tại nơi sản xuất, phương tiện thi công, người lao động,.
phải di chuyển đến địa điểm xây dựng. Dự án đầu tư xây dựng 1.“Dự án đầu tư” và “Dự án đầu tư xây dựng” a. Dự án: Theo định nghĩa của tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực”. Theo tài liệu Quản lý dự án của tác giả Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc 3 nhất”.
Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kết thúc. Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới. Như vậy có thể nhận thấy, thuật ngữ “Dự án” được giải thích theo nhiều cách diễn đạt khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung dễ nhận thấy của “dự án” đó là: Mỗi dự án là một nỗ lực đồng bộ, có giới hạn (có ngày bắt đầu và ngày hoàn thành cụ thể), thực hiện một lần nhằm tạo mới hoặc nâng cao khối lượng, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay của xã hội.
Thách thức chính của QLDA là phải đạt được tất cả các mục tiêu đề ra của dự án trong điều kiện bị khống chế bởi phạm vi công việc (khối lượng và các yêu cầu kỹ thuật), thời gian hoàn thành (tiến độ thực hiện) và ngân sách (mức vốn đầu tư) cho phép. Dự án đầu tư: Dự án đầu tư có thể hiểu là một chương trình hay kế hoạch chi tiết của hoạt động đầu tư - Hoạt động bỏ vốn đầu tư (chi phí) để tạo nên đối tượng đầu tư (vật chất hay tài chính) để thông qua quá trình vận hành, khai thác đối tượng đầu tư có thể đạt được những lợi ích mong muốn (mục đích đầu tư). Mục đích đầu tư vì thế cũng chính là mục tiêu hoặc kết quả cần đạt tới của DAĐT. Mục tiêu của DAĐT luôn phản ánh lợi ích cần đạt được, các lợi ích này có thể là lợi ích về kinh tế tài chính, lợi ích về kinh tế - xã hội và môi trường hoặc đồng thời các lợi ích đó.
Theo Luật Đầu tư năm 2014 tại khoản 2 Điều 3 nêu rõ: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Đối với DAĐT, ngoài các đặc điểm chung của dự án như đã nêu trên còn có những đặc điểm riêng, đó là tính dài hạn và tính rủi ro cao. Một DAĐT thường có thời gian tồn tại dài nhiều năm, bao gồm thời gian tạo dựng nên đối tượng đầu tư và thời gian khai thác đối tượng đầu tư (thời gian vận hành DAĐT). Do đó, DAĐT thường được hình thành và triển khai thực hiện trong những điều kiện rủi ro bởi tính dài hạn của hoạt động đầu tư.
DAĐT có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: 4 - Về mặt hình thức nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai; - Trên góc độ quản lý, DAĐT là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài; - Trên góc độ kế hoạch, DAĐT là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ; - Về mặt nội dung, DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Dự án đầu tư xây dựng: Luật Xây dựng số 50 năm 2014 hiện hành tại Khoản 15 Điều 3 nêu : “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế -kỹ thuật đầu tư xây dựng. Về phương diện lý luận, Dự án đầu tư xây dựng (DAĐTXD) được hiểu là các dự án đầu tư (DAĐT) mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản (XDCB) như xây dựng nhà cửa, đường sá, thủy lợi, cầu cống,.
Không phải tất cả các DAĐT đều có liên quan tới hoạt động XDCB. Vì thế, đối với những DAĐT không liên quan tới hoạt động XDCB không gọi là DAĐT xây dựng. Về mặt hình thức là một tập hợp các hồ sơ, tài liệu thuyết minh chi tiết kế hoạch khả thi xây dựng công trình và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự 5 án, hiệu quả kinh tế tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội và đánh giá tác động môi trường của dự án.