Đề án quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2022-2024

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế hiệu quả và đúng quy định.

Trường đại học

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Trần Thị Thanh Hiền

Thể loại

Đề án thạc sĩ

2025

126
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý chi ngân sách tại Sở Nội vụ Thừa Thiên Huế

Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động then chốt trong bộ máy công quyền. Hoạt động này trực tiếp quyết định chất lượng điều hành công việc của cơ quan hành chính. Tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, công tác chi tiêu phản ánh việc sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước. Cơ quan thực hiện chức năng tham mưu về tổ chức bộ máy, biên chế, cải cách hành chính và tôn giáo. Nguồn ngân sách được cấp hỗ trợ toàn bộ hoạt động chuyên môn thường xuyên. Việc quản lý kinh phí đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật hiện hành. Luật Ngân sách nhà nước là căn cứ pháp lý cao nhất cho mọi quyết định phân bổ dòng tiền. Cơ quan quản lý nguồn lực qua ba giai đoạn: lập dự toán, chấp hành và quyết toán cuối năm. Mỗi giai đoạn đều có tiêu chuẩn, định mức và chỉ tiêu chi tiết. Công tác này vừa giữ vững kỷ cương tài chính công, vừa ngăn chặn lãng phí tài sản công. Đơn vị luôn đề cao tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu. Dòng tiền được giám sát liên tục qua hệ thống kế toán nội bộ và Kho bạc Nhà nước. Sự đồng bộ này tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định hoạt động của toàn ngành.

1.1. Khái niệm và vai trò quản lý chi ngân sách

Quản lý chi ngân sách nhà nước là sự tác động có tổ chức của cơ quan thẩm quyền. Mục tiêu là phân phối và sử dụng các nguồn quỹ tiền tệ của nhà nước. Hoạt động này phục vụ việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế. Đối với Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, quản lý chi ngân sách giữ vai trò huyết mạch. Nguồn kinh phí bảo đảm trả lương, phụ cấp và duy trì trụ sở làm việc. Kinh phí chi trả cho các chương trình bồi dưỡng cán bộ, cải cách tiền lương và chuyển đổi số. Quản lý tài chính chặt chẽ giúp tối ưu hóa từng đồng ngân sách được cấp. Quy trình này nâng cao năng suất lao động và duy trì trật tự kỷ cương hành chính cơ quan.

1.2. Các nguyên tắc quản lý tài chính ngân sách

Quản lý chi ngân sách nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi theo luật định. Nguyên tắc hàng đầu là tính toàn diện và đầy đủ của dự toán kinh phí. Mọi khoản chi phát sinh đều phải phản ánh trong dự toán được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Tiếp theo, nguyên tắc tuân thủ định mức và tiêu chuẩn chi tiêu là thước đo bắt buộc. Cơ quan không được phép tự ý ban hành mức chi trái quy định pháp lý. Ngoài ra, nguyên tắc công khai, minh bạch đòi hỏi sự giám sát dân chủ từ tập thể cán bộ. Hồ sơ chứng từ kế toán phải lưu trữ rõ ràng và chuẩn xác. Cuối cùng, nguyên tắc gắn trách nhiệm người đứng đầu bảo đảm kỷ luật tài khóa nghiêm minh.

II. Thực trạng quản lý chi ngân sách tại Sở Nội vụ Thừa Thiên Huế

Giai đoạn 2022-2024 ghi nhận nhiều chuyển biến trong công tác điều hành tài chính tại đơn vị. Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế đã chủ động xây dựng kế hoạch dự toán hàng năm. Cơ quan bám sát các chỉ đạo tài chính từ Sở Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh. Các khoản chi cho con người luôn được ưu tiên thanh toán đầy đủ và đúng hạn. Tiền lương, phụ cấp công vụ và các khoản đóng góp bảo hiểm được giải ngân thông suốt. Cơ quan cũng nỗ lực tiết kiệm chi phí hành chính qua việc ban hành quy chế nội bộ. Tuy nhiên, thực tế triển khai vẫn bộc lộ một số tồn tại đáng chú ý. Công tác dự báo nhu cầu tài chính đôi khi chưa sát với tình hình phát sinh thực tế. Việc điều chỉnh dự toán bổ sung vào cuối năm vẫn diễn ra thường xuyên. Tiến độ phân bổ và giải ngân kinh phí sự nghiệp có thời điểm còn chậm. Một số nội dung chi đột xuất chưa được trù liệu kịp thời trong kế hoạch ban đầu. Hệ thống theo dõi chi tiêu nội bộ thiếu tính liên kết dữ liệu tự động. Những hạn chế này tạo áp lực không nhỏ lên công tác quyết toán ngân sách hàng năm.

2.1. Hạn chế trong khâu lập dự toán ngân sách

Công tác lập dự toán tại đơn vị vẫn còn mang tính hình thức ở một số phòng ban. Nhiều bộ phận xây dựng dự toán chủ yếu dựa trên số liệu lịch sử của năm trước. Phương pháp này chưa tính toán đầy đủ các biến động và nhiệm vụ thực tế phát sinh. Sự phối hợp giữa bộ phận kế toán và các phòng chuyên môn còn lỏng lẻo. Thông tin về khối lượng công việc mới chưa được cập nhật kịp thời vào biểu mẫu ngân sách. Do đó, dự toán trình cấp trên thường thiếu tính chính xác và phải chỉnh sửa nhiều lần. Tình trạng này làm giảm tính chủ động trong điều hành ngân sách cơ quan đầu năm.

2.2. Vấn đề trong chấp hành và kiểm soát chi

Quá trình chấp hành dự toán chi tiêu thường xuyên còn bộc lộ bất cập. Quy trình thẩm định hóa đơn chứng từ đôi khi chưa diễn ra đồng bộ và kịp thời. Hoạt động kiểm soát chi nội bộ chủ yếu tập trung vào tính hợp lệ của hồ sơ giấy tờ. Cơ quan chưa đánh giá sâu mức độ hiệu quả kinh tế của từng khoản chi thực tế. Việc mua sắm tài sản công và sửa chữa trang thiết bị còn chậm tiến độ. Công tác kiểm tra tài chính định kỳ giữa các đơn vị trực thuộc chưa thật sự quyết liệt. Ứng dụng công nghệ số trong giám sát dòng tiền qua kho bạc chưa đạt mức độ liên thông cao. Điều này làm giảm tính minh bạch trong quản trị tài chính công.

III. Giải pháp quản lý chi ngân sách tại Sở Nội vụ Thừa Thiên Huế

Để khắc phục các hạn chế, đơn vị cần triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp quản lý. Trước hết, cơ quan phải đổi mới toàn diện quy trình lập kế hoạch ngân sách hàng năm. Việc xây dựng dự toán cần căn cứ trên kết quả đầu ra và mục tiêu công việc cụ thể. Các phòng chuyên môn phải cung cấp số liệu chi tiết đúng thời hạn quy định. Tiếp theo, đơn vị cần rà soát và sửa đổi quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp. Định mức sử dụng xăng xe, công tác phí và văn phòng phẩm cần được kiểm soát chặt chẽ. Bên cạnh đó, công tác phối hợp liên ngành giữ vai trò rất quan trọng. Sự liên kết giữa Sở Nội vụ, Sở Tài chính và Kho bạc Nhà nước giúp ngăn chặn sai sót tài chính. Đơn vị cần tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ các khoản chi tiêu công. Việc công khai ngân sách tại hội nghị cán bộ công chức phải thực hiện nghiêm túc. Từng cá nhân phải nêu cao tinh thần tiết kiệm và chống lãng phí. Những biện pháp này giúp tối ưu hóa nguồn lực tài khóa của toàn cơ quan.

3.1. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý ngân sách

Chuyển đổi số là giải pháp đột phá để nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách. Đơn vị cần tăng cường số hóa toàn bộ quy trình kế toán hành chính sự nghiệp. Việc ứng dụng phần mềm quản lý tài chính giúp tự động hóa khâu lập dự toán và báo cáo. Dữ liệu kế toán được cập nhật theo thời gian thực và giảm thiểu lỗi thủ công. Sự kết nối trực tuyến với hệ thống Kho bạc Nhà nước rút ngắn thời gian thanh toán. Cán bộ có thể theo dõi tiến độ giải ngân từng dự án một cách minh bạch. Công nghệ số giúp nâng cao tính chính xác trong công tác quyết toán tài khóa định kỳ.

3.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tài chính

Con người là nhân tố quyết định thành công của công tác quản lý tài chính. Đơn vị cần chú trọng đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ làm kế toán. Cán bộ tài chính cần được cập nhật thường xuyên các văn bản pháp luật mới. Kỹ năng phân tích tài chính và làm chủ công nghệ cần được trau dồi liên tục. Bên cạnh đó, cơ quan cần xây dựng cơ chế khen thưởng và đãi ngộ xứng đáng. Chế độ đãi ngộ tốt sẽ tạo động lực phấn đấu và gắn bó lâu dài. Đạo đức công vụ và tính liêm chính của cán bộ tài chính phải được đặt lên hàng đầu. Điều này giúp ngăn chặn mọi hành vi tham nhũng, lãng phí ngân sách.

IV. Kết luận về quản lý chi ngân sách tại Sở Nội vụ Thừa Thiên Huế

Hoàn thiện quản lý chi ngân sách là nhiệm vụ thường xuyên và có ý nghĩa chiến lược. Công tác này giữ vai trò trọng tâm trong việc xây dựng nền hành chính minh bạch và hiện đại. Kết quả nghiên cứu tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế mang lại giá trị thực tiễn to lớn. Việc vận dụng các nguyên tắc tài chính giúp tối ưu hóa việc phân bổ dòng tiền. Cơ quan bảo đảm hoàn thành mọi mục tiêu chính trị với chi phí hợp lý nhất. Việc áp dụng kinh nghiệm quản lý từ các địa phương phát triển cần linh hoạt. Sở cần đối chiếu với điều kiện thực tế của tỉnh Thừa Thiên Huế trước khi nhân rộng mô hình. Tính tự chủ tài chính tại đơn vị dự toán cấp một cần gắn chặt với trách nhiệm giải trình. Lãnh đạo cơ quan phải trực tiếp kiểm tra tiến độ giải ngân từng quý. Kế toán viên phải thực hiện nghiêm kỷ luật hồ sơ và chuẩn mực báo cáo. Khi nguồn lực tài chính được quản lý chặt chẽ, chất lượng phục vụ công vụ sẽ nâng cao. Đây là đòn bẩy vững chắc thúc đẩy cải cách nền công vụ địa phương.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong quản trị chi ngân sách

Quá trình triển khai công tác tài chính mang lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc. Bài học đầu tiên là sự đồng bộ trong toàn bộ chu trình quản lý ngân sách. Mỗi khâu từ lập kế hoạch đến quyết toán đều cần cơ chế kiểm soát chặt chẽ. Bài học thứ hai là sự gắn kết chặt chẽ với đặc thù kinh tế xã hội địa phương. Mọi kế hoạch chi tiêu phải bám sát chức năng và nhiệm vụ chính trị của ngành nội vụ. Bài học thứ ba là vai trò tiên quyết của công tác phối hợp liên ngành. Cơ quan cần duy trì mối quan hệ chặt chẽ với cơ quan tài chính và thanh tra. Cuối cùng, việc tăng cường kỷ luật tài khóa và công khai minh bạch là nguyên tắc bất biến.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình quản trị hiệu quả

Mô hình quản lý chi ngân sách tại Sở Nội vụ có khả năng ứng dụng thực tế cao. Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc và phòng chuyên môn cấp huyện có thể học tập cách làm này. Việc chuẩn hóa quy trình phân bổ kinh phí giúp các cơ quan khác vận hành trơn tru hơn. Cơ chế tự kiểm tra nội bộ có thể áp dụng rộng rãi trong khối các sở, ngành cấp tỉnh. Bên cạnh đó, các giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin có thể chuyển giao dễ dàng. Việc số hóa quy trình thẩm định kinh phí mang lại hiệu quả rõ rệt cho toàn tỉnh. Việc áp dụng mô hình này tạo nền tảng hiện đại hóa hệ thống tài chính công địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/10/2026
Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại sở nội vụ tỉnh thừa thiên huế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Lý luận về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm Khái niệm Ngân sách thường được dùng để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong thời gian nhất định, một bản tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch hoặc một chương trình cho một mục đích nhất định của một chủ thể nào đó, nếu chủ thể đó là Nhà nước thì ngân sách đó được gọi là Ngân sách Nhà nước. Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [14].

Từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp đưa ra: Ngân sách là văn kiện được Nghị Viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó các nghiệp vụ tài chính (bao gồm thu và chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền, địa phương, các doanh nghiệp, hiệp hội.) được dự kiến và cho phép [21]. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): NSNN bao gồm tất cả các khoản chi tiêu và các khoản thu của Chính phủ, được trình lên cơ quan lập pháp xem xét và phê duyệt trước khi bắt đầu một năm ngân sách mới [22]. Dựa trên những quan điểm đã được nêu ra từ các tài liệu trong nước và quốc tế về ngân sách Nhà nước, ngân sách Nhà nước trong đề án có thể được hiểu: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu và các khoản chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên cơ sở luật định”. Đặc điểm - Một là, NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của quốc gia như: quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, quan hệ tài chính giữa nhà nước với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức xã hội, quan hệ tài chính giữa Nhà nước với các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế, quan hệ tài chính giữa Nhà nước với tư cách là bên tham gia hình thành quỹ công như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ đầu tư.

Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Tài chính nhà nước thực hiện huy động và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế.

Trên cơ sở nguồn lực huy động được, Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. - Hai là, NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác nhưng là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và được chia thành nhiều quỹ nhỏ, có tác dụng riêng và được chi dùng cho những mục đích nhất định đã được định trước [13]. Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế -chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ.

6 - Ba là, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu – chi NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, chỉ có Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư. và cả trong phân bổ các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng” [13]. - Bốn là, NSNN là một bản dự toán thu chi.

Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo. Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ. Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện. Vì vậy, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước.

Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị. - Năm là, đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp. Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, chưa rõ ràng giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến. Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có).

Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định. Trong thời kỳ hiện nay, ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội. NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân. 7 Như vậy, thông qua các quan điểm khái niệm về NSNN cũng như những đặc điểm riêng có của NSNN, có thể rút ra các góc nhìn khác nhau của NSNN: Về kinh tế, NSNN là một công cụ chính sách kinh tế của quốc gia; Về chính trị, NSNN được các đại biểu của dân giám sát, phê duyệt; Về góc độ luật pháp, NSNN là một văn bản pháp luật được phê duyệt bởi cơ quan quyền lực nhà nước, còn cơ quan hành pháp là người thực hiện; Về mặt quản lý, NSNN là căn cứ để quản lý tài chính trong các đơn vị sử dụng Ngân sách.

Chức năng NSNN có các chức năng chủ yếu sau: [14] - Chức năng phân phối: Chức năng phân phối của NSNN bao gồm cả khâu phân phối thu nhập và phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ các nguồn lực tài chính cho các đối tượng sử dụng. Đối tượng phân phối của NSNN là các nguồn lực tài chính do thu nhập quốc dân mới sáng tạo thuộc các thành phần kinh tế cùng các khoản vay, mượn của Chính phủ, gắn với việc hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng phân phối. Phạm vi phân phối của NSNN được giới hạn ở các nghiệp vụ có liên quan đến quyền chủ sở hữu và quyền lực chính trị của Nhà nước, cụ thể như sau: + Phân phối nguồn lực tài chính và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, thường là các doanh nghiệp mà Nhà nước chủ sở hữu toàn bộ hay một bộ phận dưới hình thức liên doanh liên kết hoặc chỉ cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội bằng nguồn vốn tập trung từ NSNN. + Phân phối thu nhập cho nhu cầu của các cơ quan và tổ chức kinh tế nằm trong cơ cấu bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương.

Về mục đích, phân phối của NSNN hướng vào việc giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, thực hiện tái sản xuất mở rộng, xác lập cơ cấu kinh tế - xã hội hợp lý, làm nền tảng cho quá trình phát triển phù hợp với các quy luật khách quan. 8 - Chức năng giám đốc: Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của NSNN. Các hoạt động thuộc chức năng giám đốc được hiểu là giám sát, đôn đốc, kiểm tra việc sử dụng đồng tiền, tiến hành một cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng phân phối NSNN. Đặc trưng cơ bản của giám đốc NSNN: - Giám đốc của NSNN là giám đốc sử dụng đồng tiền thông qua quá trình vận động của đồng tiền từ khâu huy động các nguồn lực tài chính đến khâu tái phân phối các nguồn lực đó cho các đối tượng sử dụng.

- Giám đốc NSNN được thực hành từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chu kỳ phân phối của NSNN. Hay nói cách khác, là được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện. Về mục đích, giám đốc NSNN là hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm trong việc huy động cũng như sử dụng vốn của NSNN và giữ kỷ luật tài chính. Giữa các chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN có mối quan hệ với nhau trong quá trình hình thành và vận động của NSNN.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Trần Thị Thanh Hiền (2025), Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế, Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, Huế.
APA 7
Trần, T. T. H. (2025). Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế [Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/hoan-thien-cong-tac-quan-ly-chi-ngan-sach-nha-nuoc-tai-so-noi-vu-tinh-thua-thien-hue/9387457853
IEEE
T. T. H. Trần, "Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại Sở Nội vụ tỉnh Thừa Thiên Huế," Đề án thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, Huế, 2025. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/hoan-thien-cong-tac-quan-ly-chi-ngan-sach-nha-nuoc-tai-so-noi-vu-tinh-thua-thien-hue/9387457853

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác