Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về công tác lập dự toán và sử dụng dự toán trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng công tác lập dự toán và sử dụng dự toán tại Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán và sử dụng dự toán tại Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ SỬ DỤNG DỰ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 2. Khái quát chung về dự toán 2. Khái niệm dự toán Dự toán là một công cụ của nhà quản lý nhằm thực hiện các chức năng quản lý của mình để hoàn thành mục tiêu của tổ chức trong quá trình quản lý. Nhu cầu thông tin dự toán rất đa dạng tùy từng giai đoạn, thời kỳ, từng mục đích khác nhau sẽ lập dự toán khác nhau.
Đây là một hệ thống bao gồm nhiều báo cáo dự toán và nếu được xây dựng một cách hợp lý, khoa học thì nó cung cấp cho nhà quản lý những thông tin kế toán cần thiết. Hệ thống các bảng dự toán rất hữu ích trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ cũng như phân phối các nguồn này cho các hoạt động tương lai của doanh nghiệp. Qua đó đưa ra các biện pháp sát thực tế nhằm đưa quá trình kinh doanh của doanh nghiệp tiếp cận được những mục tiêu đã định. Dự toán có thể lập cho giai đoạn ngắn hạn hoặc dài hạn, từ chi tiết theo từng bộ phận cụ thể của doanh nghiệp đến tổng quan toàn doanh nghiệp.
Các khoản dự toán cho giai đoạn dài hạn, khoảng thời gian từ một năm trở lên thường khá chung chung. Vì sẽ khó để có thể ước tính chính xác chi phí sản xuất và khối lượng bán hàng trong khoảng một năm, điều này thậm chí còn khó hơn khi giai đoạn dự báo kéo dài ra về chiều tương lai. Do đó, dự toán dài hạn chủ yếu tập trung vào lên kế hoạch cho các khoản đầu tư lớn và những mục tiêu có tính chiến lược dài hạn của doanh nghiệp. Còn đối với dự toán cho giai đoạn ngắn hạn, thời kỳ sẽ giới hạn trong vòng 1 năm.
Doanh thu và chi phí hoạt động ước tính được thiết lập vào đầu giai đoạn, thường là đầu tháng (đối với dự toán được lập theo tháng) hoặc đầu năm (đối với dự toán năm), sau khi giai đoạn thực tế diễn ra thì những số liệu thực tế sẽ được sử dụng để đánh giá mức độ chính xác của dự toán cũng như hiệu suất vận hành thực tế của công việc so với dự toán. Dự toán được coi là đối tượng quan tâm của nhiều chủ thể, được các cá nhân và tổ chức sử dụng như một công cụ dự kiến thu chi trong tương lai. Đối với cá nhân, hộ gia đình, dự toán là bảng liệt kê dữ liệu thu nhập và chi tiêu dự kiến trong một khoảng thời gian tương lai. Đối với các doanh nghiệp, dự toán được căn cứ trên các mục tiêu hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp, từ đó dự kiến các khoản thu nhập ước tính sẽ được nhận và các chi phí dự kiến để có thể có được khoản thu nhập đó trong tương lai.
Đối với chính phủ, dự toán hay dự toán ngân sách là một bản dự kiến các nguồn thu và dự kiến chi cho các hoạt động của chính phủ trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả sẽ chỉ đề cập đến dự toán trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Theo đó, dự toán được hiểu theo các góc độ như sau: Dưới góc độ của quản lý, “dự toán là biểu hiện về lượng của các kế hoạch hoạt động cùng nguồn lực cần thiết cho việc phối hợp và thực hiện các kế hoạch đó”. Dưới góc độ của tài chính, “dự toán là một bản kế hoạch chi tiết về hoạt động tài chính kế toán của đơn vị”.
Dưới góc độ của kế toán, “ dự toán là những dự kiến chi tiết về tình hình huy động và sử dụng các yếu tố sản xuất, các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cho hoạt động của donah nghiệp diễn ra một cách bình thường, góp phần nâng cao hiệu quả của mọi hoạt động”. Phân loại dự toán Phân loại: Dự toán được phân loại dựa trên mục đích quản lý. Thực tế, có những cách phân loại dự toán cơ bản như: - Phân loại dự toán theo thời gian thực hiện của bản dự toán Đối với mỗi doanh nghiệp, việc lên kế hoạch và định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh được chia theo giai đoạn: Ngắn hạn và dài hạn. Theo đó, được lập dựa trên chiến lược sản xuất trong tương lai của doanh nghiệp, dự toán cũng cần căn cứ theo yếu tố thời gian, gồm hai loại chính là dự toán tài chính ngắn hạn và dự toán tài chính dài hạn.
+ Dự toán tài chính ngắn hạn: Chu kỳ thực hiện của bản dự toán không quá một năm. Để đáp ứng yêu cầu của nhà quản lý, các bản dự toán của từng năm có thể lập phân đoạn theo từng nửa năm, từng quý hoặc từng tháng. + Dự toán tài chính dài hạn: Chu kỳ thực hiện của bản dự toán kéo dài trong thời gian lớn hơn một năm. Với dự toán tài chính dài hạn, mục tiêu chủ yếu của bản dự toán nhằm định hướng hoạt động của doanh nghiệp.169] Một doanh nghiệp không nhất thiết phải thực hiện cả hai hình thức dự toán tài chính ngắn hạn và dài hạn, mà thực chất dự toán tài chính dài hạn là một chuỗi liên kết với nhau của các bản dự toán ngắn hạn, bản sau liên kết, phối hợp với kết quả của bản dự toán trước, nhằm tăng cường tính liên tục và định hướng rõ hơn cho hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai.
- Phân loại dự toán theo phạm vi của dự toán Phạm vi của dự toán ở đây có thể hiểu là giới hạn để thu thập các thông tin, nội dung liên quan đến dự toán để đưa ra được các thông tin cuối cùng về dự toán, và tầm ảnh hưởng của bản dự toán cũng nằm trong phạm vi đó. Xét về việc phân loại dự toán dựa trên phạm vi, có thể chia dự toán thành dự toán bộ phận và dự toán tổng thể. + Dự toán bộ phận: Dự toán được lập trong phạm vi từng bộ phận, từng phòng ban trong cấu trúc bộ máy sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, như lập dự toán cho từng phân xưởng sản xuất, dự toán cho khối bán hàng và marketing, dự toán cho khối quản lý: Tài chính, nhân sự, mua hàng, logistics… + Dự toán tổng thể: Đây là dự toán được lập dựa trên việc kết hợp các dự toán bộ phận của doanh nghiệp theo từng hạng mục chung đã được phân loại từ trước, nhằm cung cấp thông tin tổng quát nhất của toàn doanh nghiệp. - Phân loại dự toán theo nội dung của hoạt động sản xuất kinh doanh Hệ thống dự toán theo cách phân loại này được chia thành Dự toán hoạt động, gồm có các dự toán thành phần + Dự toán sản lượng bán (tiêu thụ) + Dự toán sản xuất: Gồm dự toán chi phí Nguyên vật liệu/ Dự toán chi phí nhân công/ Dự toán chi phí sản xuất chung + Dự toán chi phí bán hàng + Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp Dự toán tài chính, gồm có các dự toán thành phần + Dự toán tiền tệ + Dự toán báo cáo tài chính: Gồm dự toán báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh/ Dự toán bảng cân đối kế toán/ Dự toán báo cáo lưu chuyển tiền tệ + Dự toán vốn đầu tư.169] - Phân loại dự toán theo tính chất biến động hay ổn định của dự toán Theo đó, dự toán được chia thành dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt.
+ Dự toán tĩnh thường được lập theo một mức độ hoạt động, do vậy khi doanh nghiệp hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau, tính khả thi của dự toán này kém. + Dự toán linh hoạt thường được lập theo nhiều mức độ hoạt động trong phạm vi giới hạn của một hoạt động, do vậy khi doanh nghiệp hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau, tính khả thi của dự toán này cao. Dự toán này dùng để phân tích với các mức độ thực tế tương ứng. Chức năng, vai trò của dự toán Chức năng cơ bản của dự toán bao gồm kế hoạch và kiểm soát.
Chức năng kế hoạch mang tính xuyên suốt cả quá trình lập dự toán, còn chức năng kiểm soát chủ yếu thể hiện rõ ở giai đoạn sử dụng dự toán, thông qua việc so sánh kết quả thực tế với dữ liệu dự toán được lập, phân tích đánh giá nguyên nhân khác biệt và từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm cải thiện. Nói đến vai trò của dự toán, có thể nhận thấy ngay rất nhiều điểm tích cực trong việc hỗ trợ điều hành doanh nghiệp. - Đây là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc lập kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp. Việc lập dự toán mang lại cho nhà quản trị một bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn sắp tới, cụ thể hóa các mục tiêu thông qua các dữ liệu tài chính.
Lập dự toán cũng là phân bổ hoạt động và nguồn lực vật chất đến từng bộ phận của doanh nghiệp. Nhà quản trị có thể nắm được các bộ phận sẽ tiến hành các hoạt động nào, tiêu tốn những nguồn lực nào và mức độ tiêu hao của từng loại nguồn lực là bao nhiêu. Từ đó có thể giúp cho nhà quản trị trong việc cân đối giữa các nguồn lực hiện có với nguồn lực cần để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, cũng như phân bổ nguồn lực giữa các bộ phận một cách hợp lý để đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp được hiệu quả nhất. - Từ quá trình phân bổ nguồn lực vật chất trong doanh nghiệp, có thể thấy lập dự toán còn giúp ích cho việc tăng cường sự phối hợp và thông tin qua lại giữa các bộ phận.
Tuy rằng mỗi bộ phận đều đảm đương một công việc nhất định, nhưng tất cả đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.