phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ qua Kho bạc Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ qua Kho bạc Nhà nƣớc Gia Lai. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ qua Kho bạc Nhà nƣớc Gia Lai. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để thực hiện luận văn này, tác giả đã nghiên cứu, tham khảo các công trình, tài liệu nghiên cứu có liên quan đề tài.
Một số công trình tiêu biểu nhƣ sau: Luận văn thạc sĩ: “Tăng cường công tác kiểm soát chi vốn đầu tư xây 4 dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Liên Chiểu” tác giả Hoàng Thị Lan Phƣơng của Kho bạc Nhà nƣớc Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng năm 2010. Luận văn đã đƣa ra giải pháp mới nhƣ xây dựng nội dung, tiêu chí kiểm soát theo hƣớng cụ thể, chi tiết để cán bộ làm công tác kiểm soát TTVĐT thuận lợi khi thực hiện. Tuy nhiên giải pháp về thành lập thêm bộ phận tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả hiện nay không còn phù hợp xu hƣớng tinh gọn bộ máy hành chính của KBNN và đã không còn đƣợc áp dụng nữa. Đối với giải pháp về sửa đổi quy trình luân chuyển chứng từ theo hƣớng một bộ hồ sơ thanh toán, tạm ứng chỉ trình một lãnh đạo đơn vị ký duyệt một lần.
Nhƣ vậy theo quy trình này thì một bộ hồ sơ thanh toán, tạm ứng phải chuyển qua lại 2 lần giữa bộ phận Kiểm soát chi và Kế toán. Điều này gây khó khăn, phức tạp trong việc giao nhận hồ sơ giữa 2 bộ phận. Mặc khác nếu chứng đã nhập máy và hạch toán xong nhƣng lãnh đạo không đồng ý ký duyệt thì bộ phận Kế toán lại làm thủ tục hủy chứng từ trên máy mất nhiều thời gian. Đối với giải pháp cán bộ làm công kiểm soát TTVĐT cần phải tham gia vào Hội đồng nghiệm thu đối với công trình, dự án là không còn phù hợp với quy định tại các văn bản hƣớng dẫn về công tác quản lý thanh toán vốn đầu tƣ.
Theo đó KBNN không chịu trách nhiệm kiểm tra về định mức, đơn giá và không tham gia vào các Hội đồng nghiệm thu ở các công trình, dự án. Luận văn thạc sĩ: "Tăng cường kiểm soát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước Quảng Ngãi" tác giả Dƣơng Thị Ánh Tiên của KBNN Quảng Ngãi năm 2012. Luận văn đã đánh giá thực trạng công tác kiểm soát TTVĐT qua KBNN Quảng Ngãi trong giai đoạn 2005– 2009 và đƣa ra đƣợc một số giải pháp nhằm tăng cƣờng kiểm soát TTVĐT. Luận văn đã đƣa ra giải pháp tập trung công tác kiểm soát TTVĐT vào một đầu mối nhằm thống nhất nhằm tăng cƣờng quản lý công tác này đƣợc hiệu 5 quả hơn.
Giải pháp về phân định rõ trách nhiệm giữa cán bộ thanh toán và cán bộ kiểm tra không còn đƣợc áp dụng trong mô hình kiểm soát TTVĐT hiện nay. Đối với giải pháp về hoàn thiện quy trình kiểm soát TTVĐT năm 2009 hiện nay đã không còn phù hợp với quy trình kiểm soát TTVĐT mới ban hành tháng 4 năm 2012. Luận văn thạc sĩ: "Hoàn thiện công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư qua Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng" tác giả Đoàn Kim Khuyên của KBNN Đà Nẵng năm 2012. Luận văn đã đánh giá thực trạng công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tƣ của KBNN Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2008-2010.
Trong đó tập trung vào đánh giá mô hình tổ chức và phân cấp thực hiện công tác kiểm soát TTVĐT. Luận văn cũng làm rõ kết quả mà KBNN Đà Nẵng đã đạt đƣợc trong công tác đánh chất lƣợng phục vụ, thông qua công tác khảo sát mức độ hài lòng của các cá nhân và tổ chức có quan hệ với KBNN Đà Nẵng. Luận văn đã đƣa ra giải pháp mới về xây dựng mô hình giao dịch một cửa có thay đổi so với quy định của KBNN, đề xuất triển khai nhanh quy trình kiểm soát cam kết chi NSNN qua KBNN, nhằm tăng cƣờng quản lý TTVĐT từ ngân sách nhà nƣớc. Tuy nhiên giải pháp về tổ chức mô hình phân công chuyên môn hóa đối với cán bộ kiểm soát TTVĐT có ƣu điểm là hƣớng đến chuyên nghiệp hơn, nhƣng lại chƣa phù hợp với chủ trƣơng chuyển đổi vị trí, luân phiên công việc hàng năm nhằm thực hiện ngăn chặn, phòng ngừa tham nhũng.
Luận văn thạc sĩ: “Tăng cường công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB tại Kho bạc Nhà nước Tam Kỳ” tác giả Vƣơng Thúc Đà của KBNN Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam năm 2013. Luận văn đã đƣa ra giải pháp xây dựng quy trình kiểm soát chứng từ mới theo hƣớng rút ngắn thời gian giao dịch, giảm thiểu các bƣớc trình lãnh đạo KBNN ký duyệt còn một lần thay vì hai 6 lần nhƣ hiện tại. Theo đó hồ sơ kiểm soát TTVĐT gồm: Giấy đề nghị TTVĐT và Giấy rút vốn đầu tƣ của bộ phận kiểm soát chi phải chuyển sang cho bộ phận kế toán để làm thủ tục và trình lãnh đạo duyệt một lần sau đó làm thủ tục chuyển tiền cho đơn vị thụ hƣởng rồi mới chuyển trả hồ sơ lại cho bộ phận kiểm soát chi. Tuy nhiên nhƣợc điểm lớn nhất của giải pháp này là chứng từ Giấy đề nghị TTVĐT do bộ phận kiểm soát chi kiểm soát và lãnh đạo ký nhƣng bộ phận kế toán trình ký sẽ gây rất nhiều khó khăn khi cần thuyết minh, giải trình cho lãnh đạo.
Quy trình này cũng đã đƣợc áp dụng một thời gian nhƣng thực tế chƣa phát huy đƣợc ƣu điểm nhƣ mong muốn, mà tạo ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý , do đó quy trình trên hiện nay đã không còn đƣợc áp dụng. Đây là những luận văn khoa học có tính thực tiễn trên địa bàn đƣợc nghiên cứu. Tuy nhiên tại KBNN Gia Lai hiện nay chƣa có công trình nghiên cứu công tác kiểm soát TTVĐT theo định hƣớng đổi mới của KBNN. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƢ QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
CHI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Ngân sách nhà nƣớc & Chi ngân sách nhà nƣớc a. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của ngân sách nhà nước - Khái niệm về ngân sách nhà nƣớc: Ngân sách nhà nƣớc là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Ngân sách nhà nƣớc còn là một thành phần trong hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" đƣợc sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nƣớc lại chƣa thống nhất, có nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nƣớc tùy theo các trƣờng phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên nhìn chung, chúng đều phản ánh về kế hoạch, dự toán thu, chi của nhà nƣớc trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc, nhà nƣớc sử dụng quỹ tập trung đó để trang trải cho các khoản chi tiêu của mình. Theo Luật Ngân sách nhà nƣớc đã đƣợc Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 đã nêu: "Ngân sách Nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc trong dự toán đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc".
- Đặc điểm của Ngân sách nhà nƣớc: Ngân sách nhà nƣớc là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Ngân sách nhà nƣớc có một số đặc điểm sau: Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nƣớc luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nƣớc. Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nƣớc và các 8 chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu, chi của NSNN. Hoạt động ngân sách nhà nƣớc là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nƣớc; Các hoạt động thu, chi NSNN đều đƣợc tiến hành dựa trên cơ sở những quy định pháp luật.
Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN đƣợc hình thành chủ yếu thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến; Đằng sau các hoạt động thu, chi của NSNN là các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. - Vai trò của ngân sách nhà nƣớc: Ngân sách nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nƣớc. Ngân sách nhà nƣớc là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hƣớng phát triển sản xuất, điều tiết thị trƣờng, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Khái niệm & phân loại chi ngân sách nhà nước - Khái niệm chi ngân sách Chi NSNN là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của Nhà nƣớc.
Chi NSNN là việc nhà nƣớc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội dựa trên các nguyên tắc nhất định. Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tƣợng. Theo luật NSNN hiện hành làm rõ: "Chi ngân sách nhà nƣớc bao gồm 9 các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc; chi trả nợ của Nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật." - Phân loại chi ngân sách nhà nƣớc Căn cứ theo yếu tố chức năng, nhiệm vụ chi NSNN ta có các nhóm chi: Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thƣờng xuyên của nhà nƣớc; Nhóm chi đầu tư phát triển là các khoản chi dài hạn nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nƣớc và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế; Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nƣớc thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nƣớc, vay nƣớc ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế; Nhóm chi dự trữ là những khoản chi NSNN để bổ sung quỹ dự trữ nhà nƣớc và quỹ dự trữ tài chính.