Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆPCÔNG LẬP 1. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập có ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán 1. Kinh phí hoạt động Theo Điều 2 nghị định 16/2015/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 14/02/2015 “Quy định về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập”, “đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. (Chính phủ, 2015) Theo giáo trình “Tài chính Hành chính sự nghiệp”: đơn vị sự nghiệp Nhà nước (Đơn vị sự nghiệp công lập) là “các đơn vị có hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các hàng hóa, dịch vụ khác trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông - lâm ngư nghiệp, kinh tế., nhằm duy trì hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân.
Đặc tính chủ yếu của các đơn vị sự nghiệp là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính”. ( Phạm Duy Linh, 2008) Căn cứ vào các khái niệm trên, tác giả có thể khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ quản lý Nhà nước là chính, không vì mục tiêu lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động. Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần được sử dụng thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng.
Theo đó, kinh phí hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đến từ các e 8 nguồn sau: - Do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ hoặc một phần (tùy đơn vị). - Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Thu từ hoạt động tài chính. - Các khoản thu khác theo quy định.
Theo quy định tại Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15 Nghị định 16/2015/NĐ-CP quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, tự chủ tài chính gồm bốn hình thức sau: - Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư. - Đơn vị SNCL tự bảo đảm chi thường xuyên. - Đơn vị SNCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí). - Đơn vị SNCL do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp) Theo Luật Ngân sách Nhà nước, kế toán đơn vị sự nghiệp được tổ chức theo hệ thống dọc tương ứng với từng cấp ngân sách nhằm phù hợp với công tác chấp hành ngân sách đó.
Tại khoản 10, Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2015 cũng nêu rõ “đơn vị dự toán cấp I là đơn vị dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách”. (Quốc Hội khóa 13, 2015) Cụ thể, tại điểm a, khoản 1, Điều 5 Thông tư 99/2018/TT-BTC quy định “Đơn vị dự toán cấp I gồm: Các Bộ, ngành và các tổ chức tương đương tại trung ương; Các sở, ban ngành và các đơn vị tương đương thuộc cấp tỉnh; Các đơn vị cấp phòng và tương đương thuộc cấp huyện thuộc đối tượng phải lập và nộp báo cáo tài chính tổng hợp cho cơ quan tài chính và KBNN đồng e 9 cấp theo quy định”. (Bộ Tài chính, 2018) Pháp luật không có quy định cụ thể thế nào đơn vị dự toán cấp II và đơn vị dự toán cấp III mà chỉ có quy định về đơn vị kế toán trung gian. Đơn vị kế toán trung gian là đơn vị kế toán cấp trên được đơn vị dự toán cấp 1 giao nhiệm vụ lập báo cáo tài chính tổng hợp theo quy định của thông tư 99/2018/TT-BTC (Điều 5).
Các cấp đơn vị trung gian theo quy định của Thông tư 99/2018/TT-BTC bao gồm: Đơn vị kế toán trung gian 1 là đơn vị kế toán cấp trên, trực thuộc trực tiếp đơn vị dự toán cấp 1, trong đơn vị kế toán trung gian 1 có thể bao gồm các đơn vị kế toán trung gian 2 và đơn vị kế toán cơ sở cấp dưới trực thuộc trực tiếp. Đơn vị kế toán trung gian 2 là đơn vị kế toán cấp trên, trực thuộc trực tiếp đơn vị kế toán trung gian 1, trong đơn vị kế toán trung gian 2 gồm các đơn vị kế toán cơ sở cấp dưới trực tiếp. Trường hợp đơn vị dự toán cấp 1 tổ chức nhiều hơn 2 cấp đơn vị kế toán trung gian thì các đơn vị vận dụng việc tổng hợp số liệu theo nguyên tắc và phương pháp tổng hợp tại Thông tư này. Theo đó, có thể khái quát đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được ủy quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và công tác kế toán và quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới theo quy định.
Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán ngân sách, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình và đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc (nếu có) theo quy định. e 10 Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán theo quy định. Lĩnh vực hoạt động Theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP, các đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể sau: Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như các trường mầm non, tiểu học, trung học, các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học, học viện… Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – thông tin, nghệ thuật bao gồm các đoàn nghệ thuật, nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, trung tâm thông tin triển lãm, thư viện công cộng, Đài phát thanh truyền hình… Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực thể dục thể thao gồm các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao… Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế bao gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn, các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông lâm ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp… Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm cơ sở khám chữa bệnh như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các bộ ngành và địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe. Mục tiêu hoạt động Các đơn vị sự nghiệp được thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội, tạo ra các sản phẩm mang lợi ích chung và lâu dài.
e 11 Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội. là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều nguời, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. Hiện nay, tất cả các đơn vị sự nghiệp công lập đang đẩy mạnh quá trình cải cách về mọi mặt để tiến đến tự chủ tự chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các hoạt động của mình theo đúng định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước. Vai trò, nguyên tắc và yêu cầu công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập 1.
Vai trò công tác kế toán Kế toán là khâu quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của tất cả các đơn vị nói chung và đơn vị hành chính sự nghiệp nói riêng. Việc thu thập, xử lý, phân tích, hạch toán tất cả các nghiệp vụ thu chi phát sinh cũng như lập cáo báo cáo định kỳ về tình hình tài chính phục vụ cho yêu cầu quản lý có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. (Lê Thị Thúy Hằng, 2017) Kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các thông tin giúp cấp quản lý lập kế hoạch và ra quyết định. Theo đó, bên cạnh việc phân tích nhu cầu của xã hội đối với các dịch vụ công, thì kế toán công là công cụ quan trọng để các đơn vị công lập xác định thế mạnh của mình và xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.
Tuy nhiên do tác động của cơ chế bao cấp trong một thời gian dài nên tổ chức kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập hiện chỉ dừng lại ở việc phản ánh các khoản mục thu – chi theo hệ thống tài khoản và mục lục Ngân sách Nhà nước. Việc tổ chức, vận hành tổ chức kế toán quản trị chưa được chú trọng, chưa mang tính hệ thống và khoa học, gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc hoạch định ngân sách cũng như điều hành kiểm soát các hoạt e 12 động trong đơn vị. Do vậy, hoàn thiện công tác kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập là một nhu cầu thiết yếu hiện nay. Nguyên tắc công tác kế toán Công tác kế toán trong đơn vị hành chính sự nghiệp cần tuân thủ bốn nguyên tắc chính sau: (Lê Thị Thúy Hằng, 2017) - Nguyên tắc thống nhất: Xuất phát từ vị trí của kế toán trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động tài chính của đơn vị hành chính sự nghiệp, vì vậy công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất.