CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về nhân lực Nhân lực chính là sức lực nằm trong mỗi con người, để con người có thể hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người. Cho đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động hay còn gọi là con người có sức lao động. Nhân lực còn được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế và còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Và tâm lực trong kinh tế học được hiểu là "sự ham muốn sử dụng sức lực để hoàn thành công việc", dùng hết năng lực và ý chí của bản thân để làm việc. Theo David Begg (1995), Fischer & Dornhusch: “Nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Theo quan điểm của Begg, thì định nghĩa nhân lực được xem như một chuỗi tri thức, hoạt động hay kỹ năng mà con người học tập, tích luỹ được trong quá trình phát triển của họ. Và với các kỹ năng chuyên môn đó, con người sẽ sử dụng vào từng công việc cụ thể, khác nhau mà tìm kiếm thu nhập cá nhân của riêng mình. Nguyễn Minh Cương và PGS.TS Nguyễn Thị Doan (2008): “Nhân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất”. Với quan điểm này, nhân lực được hiểu là những con người bao gồm cả phẩm chất đạo đức, đức hạnh tốt đẹp bên trong và cả trình độ chuyên môn, kỹ năng lao động để có thể tham gia vào các công việc sản xuất.7] Nhận xét: Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của kinh tế, chính trị, tác giả đưa ra khái niệm: Nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức xã hội.
Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp các cá nhân cùng kiến thức, kỹ năng và hành vi ứng xử, giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội (vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức (vi mô). Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Khái niệm nguồn nhân lực cho đến nay hầu như chưa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có nhận thức khác nhau về nguồn nhân lực.
Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: Theo Liên Hợp Quốc trong Các chỉ số phát triển thế giới (World Development Indicators) (2000) thì: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Có thể thấy, theo quan điểm của Liên Hợp quốc thì ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Phạm Minh Hạc (2001): “Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của con người lao động. Nó là tổng thể nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế – xã hội của một số quốc gia hay địa phương nào đó”.
Với quan điểm này, nguồn nhân lực được định nghĩa là những kỹ năng chuyên môn cũng như đức hạnh của mỗi con người. Khi người lao động hội tụ được đầy đủ hai yếu tố đó sẽ có thể tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội cho các tổ chức nói riêng và xây dựng đất nước nói chung. Trần Kim Dung (2006): “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định”. Theo tác giả, nguồn nhân lực được hiểu là những cá thể riêng biệt dùng sức lao động của mình liên kết lại với nhau phục vụ mục đích chung cho doanh nghiệp.7] 2 Thư viện ĐH Thăng Long Nhận xét: Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo sự tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà có thể nhận thấy qua các định nghĩa trên là khi nói về nguồn nhân lực bao gồm cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Trong đó: − Số lượng nhân lực: được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong và những yếu tố bên ngoài của tổ chức. − Chất lượng nhân lực: Là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ,. của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, có thể hiểu rằng: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Phân loại nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp có nhiều cách để phân chia như sau: Theo hình thức hợp đồng, nguồn nhân lực được phân thành: lao động không xác định thời hạn và lao động hợp đồng ngắn hạn − Lao động không xác định thời hạn: Là lao động có hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. − Lao động hợp đồng ngắn hạn: Là người lao động có hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
Theo đào tạo, nguồn nhân lực có thể chia thành hai loại: Nguồn nhân lực đã qua đào tạo và nguồn nhân lực chưa qua đào tạo − Nguồn nhân lực đã qua đào tạo: Là tất cả những người mà đã có kinh nghiệm sau khóa đào tạo nên hiểu rõ hơn về vị trí công việc của mình, đồng thời có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất và có khả năng thích ứng mọi trường hợp. − Nguồn nhân lực chưa qua đào tạo: Là tất cả những người chưa có hoặc có rất ít kinh nghiệm về vị trí công việc hiện tại của mình, đôi khi họ còn thiếu sót và không đủ khả năng thích ứng mọi trường hợp. Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp sẽ được chia thành hai loại: lao động làm công tác quản lý và lao động trực tiếp sản xuất. Cụ thể: − Lao động làm công tác quản lý: Là tất cả những người trong bộ máy quản lý tham gia vào việc thực hiện chức năng quản lý (gồm cán bộ quản lý cấp cao, cán bộ quản lý cấp trung, cán bộ quản lý cấp cơ sở và các viên chức thừa hành).
3 − Lao động trực tiếp sản xuất: Là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, trực tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ cho doanh nghiệp. Khái quát về công tác đào tạo nguồn nhân lực 1. Khái niệm về công tác đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là các hoạt động học tập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn.
Theo tác giả TS. Nguyễn Vân Điềm và PGS. Nguyễn Ngọc Quân, Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Đào tạo là hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh”. Theo quan điểm này, đào tạo nhân lực chính là quá trình làm cho người lao động nắm vững hơn công việc của mình, là hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.153] Theo tác giả Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2008), Giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Thương mại: “Đào tạo là quá trình cung cấp các kiến thức, hoàn thiện kỹ năng, rèn luyện các phẩm chất nghề nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu trong quá trình thực hiện công việc của họ ở các thời điểm hiện tại và tương lai”.
Với quan điểm này, đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là một quy trình có tổ chức, có kế hoạch giúp con người học được những kiến thức, kỹ năng mới mà họ chưa từng tiếp cận.