Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG NÔNG SẢN 1. Cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng và phát triển chuỗi cung ứng nông sản 1. Khái niệm về chuỗi cung ứng Khái niệm về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng xuất hiện vào những năm 80 và trở nên phổ biến từ những năm 90.Hau Lee và C.Billington (1995), chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua hệ thống phân phối. Chuỗi cung ứng là sự liên kết của các công ty để cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho thị trường (Micheal Hugos, 2003).
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất, các nhà cung cấp mà còn có những người vận chuyển, hệ thống kho bảo quản, những nhà bán lẻ và cả khách hàng (Chopra &Meindl, 2001). Chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện, các lựa chọn phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, biến đổi chúng thành các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, phân phối những sản phẩm đó tới khách hàng cuối cùng (Ganeshan& Harison, 1995). David Sharpe, 2008 đưa ra định nghĩa khác về chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng là môi trường nơi dòng sản phẩm, dịch vụ, thông tin di chuyển từ nhà cung ứng đầu tiên tới khách hàng cuối cùng và ngược lại.
Như vậy, chuỗi cung ứng là một mạng lưới phức tạp bao gồm các tác nhân liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc cung ứng sản phẩm cho khách hàng cuối cùng một cách nhanh và hiệu quả thông qua dòng sản 6 phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin. Qua đó, nó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về Chuỗi cung ứng nhưng đều cho thấy một Chuỗi cung ứng sẽ có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, Chuỗi cung ứng bao gồm các các thành viên liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến dịch chuyển dòng hàng hóa nhằm thoả mãn nhu cầu khách hàng. Thứ hai, các thành viên tham gia vào các giai đoạn của Chuỗi cung ứng phải liên kết với nhau nhằm thỏa mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng.
Như vậy, Chuỗi cung ứng hàng hóa là dòng vận động của sản phẩm qua các khâu nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng về mặt thời gian, địa điểm, chủng loại, chất lượng với chi phí thấp nhất. Do đó, Chuỗi cung ứng hàng hóa có thể được chia thành nhiều cấp độ khác nhau như Chuỗi cung ứng hàng hóa của doanh nghiệp, Chuỗi cung ứng hàng hóa của địa phương, Chuỗi cung ứng hàng hóa của quốc gia và Chuỗi cung ứng hàng hóa toàn cầu nhưng thực chất các Chuỗi cung ứng này là Chuỗi cung ứng của hàng hóa cụ thể ở những cấp độ không gian kinh tế khác nhau như doanh nghiệp, địa phương, quốc gia và trên toàn cầu. Để chuỗi cung ứng hàng hóa hoạt động có hiệu quả, thoả mãn nhu cầu của khách hàng thì chuỗi phải được quản lý một cách khoa học. Vai trò phân tích chuỗi cung ứng nông sản Thứ nhất, ở mức độ cơ bản nhất, một phân tích phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi lập sơ đồ một cách hệ thống các bên tham gia vào sản xuất, phân phối, tiếp thị và bán một (hoặc nhiều) sản phẩm cụ thể.
Việc lập sơ đồ này đánh giá các đặc điểm của những người tham gia, cơ cấu lãi và chi phí, dòng hàng hóa trong chuỗi, đặc điểm việc làm và khối lượng và điểm đến của hàng hóa được bán trong nước và nước ngoài (Kaplinsky và Morris 2001). Những chi tiết này có thể thu thập được nhờ kết hợp điều tra thực địa, thảo luận nhóm tập trung, PRA, phỏng vấn thông tin và số liệu thứ cấp. 7 Thứ hai là phân tích phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi có vai trò trung tâm trong việc xác định sự phân phối lợi ích của những người tham gia trong chuỗi. Có nghĩa là, phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên một sản phẩm trong chuỗi để xác định ai được hưởng lợi nhờ tham gia chuỗi và những người tham gia nào có thể được hưởng lợi nhờ được tổ chức và hỗ trợ nhiều hơn.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh của các nước đang phát triển (và đặc biệt là nông nghiệp), với những lo ngại rằng người nghèo nói riêng dễ bị tổn thương trước quá trình toàn cầu hóa (Kaplinsky và Morris 2001). Có thể bổ sung phân tích này bằng cách xác định bản chất việc tham gia trong chuỗi để hiểu được các đặc điểm của những người tham gia. Thứ ba, phân tích phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi có thể dung để xác định vai trò của việc nâng cấp trong chuỗi giá trị. Nâng cấp gồm cải thiện chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp nhà sản xuất thu được giá trị cao hơn hoặc đa dạng hóa dòng sản phẩm.
Phân tích quá trinh nâng cấp gồm đánh giá khả năng sinh lời của các bên tham gia trong chuỗi cũng như thông tin về các cản trở đang tồn tại. Các vấn đề quản trị có vai trò then chốt trong việc xác định những hoạt động nâng cấp đó diễn ra như thế nào. Ngoài ra, cơ cấu của các quy định, rào cản gia nhập, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn có thể tiếp tục tạo nên và ảnh hưởng đến môi trường mà các hoạt động nâng cấp diễn ra. Thành phần của chuỗi cung ứng Các nhân tố tham gia vào chuỗi cung ứng bao gồm: Nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán sỉ, nhà bán lẻ và khách hàng.
- Nhà cung cấp nguyên vật liệu có vai trò quan trọng cung cấp nguyên vật liệu cho nhà máy sản xuất, nguồn nguyên liệu có thể nằm ở khắp mọi nơi trên thế giới, các vùng nông thôn hẻo lánh… - Nhà sản xuất có vai trò chế biến thành những sản phẩm phục vụ nhu cầu của cuộc sống. Nhà sản xuất là các đơn vị tổ chức sản xuất ra sản phẩm. Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất ra nguyên vật liệu và công ty sản xuất thành phẩm. 8 - Nhà bán sỉ có vai trò cung ứng hàng hóa ra thông qua người bán lẻ hoặc có thể bán trực tiếp ra thị trường nhưng với một số lượng lớn.
Nhà bán sỉ là các cá nhân, công ty mua lượng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và bán các sản phẩm đó. Họ chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm đến tay khách hàng khi họ muốn và đến nơi họ cần. Đây là thành viên gần gũi với khách hàng, nắm bắt và nhu cầu của khách hàng. Không chỉ thực hiện những chiến dịch khuyến mại, các nhà phân phối còn thực hiện chức năng như quản lý vận hành các kho hàng, vận chuyển các sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ khách hàng.
- Nhà bán lẻ là nơi trực tiếp cung ứng cho người tiêu dùng, có mối quan hệ trực tiếp với khách hàng. Nhà bán lẻ thực hiện chức năng dự trữ sản phẩm và bán các sản phẩm với lượng bán nhỏ hơn. Đây là thành viên gần gũi với khách hàng nhất (khách hàng cuối cùng). Tổng hợp những thông tin về khách hàng từ nhà bán lẻ sẽ giúp những nhà phân phối cũng như các công ty nắm bắt tốt hơn những nhu cầu của khách hàng trên thị trường.
- Khách hàng là người tiêu thụ sản phẩm được làm ra và khách hàng cũng giữ vị trí quan trọng trong sự tồn tại của chuỗi cung ứng sản phẩm. Khách hàng hay người tiêu dùng là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mua và sử dụng sản phẩm. Một khách hàng có thể mua sản phẩm của công ty và bán cho khách hàng khác và sử dụng nó. Ngoài ra tham gia vào chuỗi cung ứng còn có nhà cung cấp dịch vụ: Đó là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng.
Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn và kỹ năng đặc biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng. Chính vì thế họ cú thể thực hiện được những dịch vụ này hiệu quả hơn với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng làm điều này. Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ nhà kho. Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp hậu cần.
Trong các chuỗi cung ứng khác nhau, số lượng các tác nhân có thể đầy đủ hoặc có thể thiếu một số tác nhân trong chuỗi. 9 Có ba dòng chảy xuyên suốt toàn chuỗi cung ứng. Đó là dòng chảy của sản phẩm, thông tin và tài chính. Các dòng chảy này tạo ra chi phí của chuỗi cung ứng.
Khách hàng là nguồn doanh thu duy nhất của chuỗi cung ứng. Sự phối hợp chặt chẽ của dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính là vô cùng quan trọng trong chuỗi cung ứng. Đặc biệt là vai trò cầu nối của dòng chảy thông tin bởi nó ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng đúng lúc. Tại một cửa hàng bán lẻ, khách hàng sẽ được cung cấp các sản phẩm, giá cả và sự sẵn sàng, đầy đủ về thông tin (sản phẩm, khuyến mãi, nhà sản xuất…) và ngược lại khách hàng sẽ thanh toán tiền sản phẩm mà họ mua.
Nhà bán lẻ sẽ gửi thông tin liên quan đến việc bán hàng, đơn đặt hàng tới các nhà phân phối để họ chuyển hàng tới. Các cửa hàng bán lẻ sẽ chuyển tiền cho nhà phân phối sau khi nhận được hàng. Nhà phân phối cũng đổi cho nhà bán lẻ những thông tin về sản phẩm, giá cả… Vòng tuần hoàn bắt đầu với việc nhận đơn đặt hàng của khách hàng và kết thúc khi khách hàng thanh toán đơn đặt hàng của họ. Cứ như vậy, dòng sản phẩm, tài chính và thông tin được luân chuyển trong chuỗi cung ứng.
Bất kỳ chuỗi cung ứng nào cũng cần cân nhắc giữa tính đáp ứng nhanh và tính hiệu quả. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, nếu chỉ tập trung vào tính hiệu quả mà bỏ qua tính đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng thì các công ty, các chuỗi cung ứng không thể thành công.