CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XUẤT KHẨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến Chính sách 1.1 Khái niệm chính sách Trên thế giới hiện nay, tình hình kinh tế của một số nước phát triển rất cao, đó là những nước đã phát triển như Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản, Anh, Pháp, Australia, Canada v.Nhiều nước đang phát triển như Thái Lan, Singapore, Nga, Hàn quốc, Đài Loan v.Kết quả của sự thành công đó một phần quan trọng là quan hệ thương mại quốc tế, trong đó chính sách xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc thu nhập ngoại tệ, thúc đẩy sản xuất trong nước, phát huy thương mại quốc tế, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Vậy, chính sách xuất khẩu là chính sách gì, được khái niệm như thế nào. Việc đề ra chính sách xuất khẩu trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội có tầm quan trọng và cần thiết như thế nào.
Ta có thể hiểu chính sách nói chung và chính sách xuất khẩu như sau: Chính sách là tổng thể các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực, các giải pháp, công cụ, nguồn lực mà nhà nước sẽ sử dụng để giải quyết một vấn đề đặt ra của xã hội thông qua các mục tiêu phải đạt theo định hướng phát triển chung của nhà nước.[16], [20] Chính sách xuất khẩu là tồng thể các biện pháp của nhà nước tác động đến việc giao dịch hàng hóa quốc tế với một số nhằm mục đích trao đổi hàng háo với nước ngoài, thu lợi nhuận về kinh tế cao, tăng cường sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế.2 Căn cứ hình thành chính sách Căn cứ để lựa chọn vấn đề cho các chính sách kinh tế - xã hội là tính quan trọng và bức xúc của nó trong đời sống kinh tế xã hội. Những vấn đề có tính quan trọng và bức xúc được biểu hiện dưới các dạng sau: Luan van 7 Thứ nhất, vấn đề trở thành mâu thuẫn ngày càng gay gắt, hoặc trở thành vật cản đối với sự phát triển của đất nước. Chẳng hạn đối với Lào hiện nay là các vấn đề: đói nghèo, thủ tục hành chính. Thứ hai, vấn đề đó là mối quan tâm lo lắng của nhiều người, có ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Những vấn đề ấy như: thuế, việc làm, ô nhiễm môi trường, tham nhũng, tệ nạn xã hội,. Ngày nay, khi quyết định chính sách, trước hết phải tính đến khách hàng của mình và đối thủ cạnh tranh cận kề, đồng thời phải tính đến khả năng có thể thu hút được các hoạt động xúc tiến và tài trợ của các tổ chức với hoạt động kinh doanh quốc tế của mình. Do đó, khi lựa chọn chiến lược kinh doanh, không thể không tìm hiểu: - Đặc điểm ngành hàng kinh doanh của quốc gia ở các nước trên thế giới. - Khả năng đáp ứng, các vùng nguyên vật liệu đáp ứng sản xuất.
- Phân đoạn thị trường, phương thức thâm nhập thị trường Do kinh tế thế giới ngày càng phát triển và đang có xu thế hội nhập kinh tế vùng và khu vực, tiến tới toàn cầu hóa. Do đó chính sách còn phải tính tới đặc điểm của các khối và các quốc gia thị trường mục tiêu. Chính sách đúng tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động phát triển các hướng kinh doanh phù hợp với môi trường trên cơ sở tận dụng các cơ hội, tiềm năng, tránh các rủi ro, phát huy các lợi thế của doanh nghiệp trong kinh doanh, cải thiện căn bản tình hình, vị thế của một quốc gia trên thị trường. [2] Căn cứ hình thành chính sách có thể hiểu là một mâu thuẫn xuất hiện trong đời sống kinh tế, xã hội hoặc một nhu cầu thay đổi hoặc duy trì hiện trạng, đòi hỏi Nhà nước ban hành một chính sách kinh tế - xã hội nào đó để giải quyết theo những mục tiêu mong muốn.
Đó có thể là những vấn đề thường xuyên, quan trọng, mang tính phổ biến mà quốc gia nào cũng gặp (tài chính, tiền tệ, việc làm.), hoặc có Luan van 8 thể là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, cá biệt, nảy sinh trong một thời gian nhất định hoặc chỉ một số nước mới gặp (tham nhũng, nghèo đói, hậu quả chiến tranh, mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc. Trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường luôn có những mâu thuẫn nảy sinh trong một lĩnh vực nào đó. Đó thường là những lĩnh vực quan trọng không nên để khu vực tư nhân làm (an ninh, quốc phòng.) hoặc những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không muốn làm và không có khả năng giải quyết do vốn đầu tư quá lớn, công nghệ phức tạp, do tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn kéo dài. Các mâu thuẫn đó ngày càng trở nên sâu sắc và đến một mức nhất định chúng trở thành “những vấn đề bức xúc”, nóng bỏng cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết (ví dụ: vấn đề lạm phát, sự thất bại trong cạnh tranh, độc quyền, sự phân bổ không hợp lý các nguồn lực, sự tàn phá tài nguyên và ô nhiễm môi trường, tình trạng nghèo khổ và bất bình đẳng, việc cung cấp hàng hóa công cộng.
Những vấn đề về lợi ích của các giai cấp hoặc nhóm người nhất định trong xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải quan tâm, có chính sách điều tiết để thực hiện mục tiêu xã hội công bằng (người nghèo, người tàn tật, người có công với nước, các vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người. Những vấn đề chính là căn cứ đầu tiên để hình thành các chính sách. Các chính sách được xây dựng lên để giải quyết các vấn đề trên. Các vấn đề có thể là rất nhiều, nhưng rõ ràng là không thể ngay một lúc giải quyết tất cả.
Vì vậy việc đặt ra là lựa chọn vấn đề.3 Nội dung vai trò của chính sách - Nội dung của chính sách Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy những từ khóa chính của khái niệm gồm: vấn đề, chính quyền và sự lựa chọn. Có một vấn đề kinh tế - xã hội nào Luan van 9 đó xuất hiện,chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn đề đó (để cho vấn đề tự phát triển cũng là một cách giải quyết). Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện và các tác động sau đó.1 Nội dung chính sách Nội dung của chính sách Quan điểm Các giải pháp Nguồn lực Công cụ Chuẩn mực của chính Các mục tiêu Nguồn lực vv…Thức thi sách cần đạt chính sách Các chính sách phân hệ Chỉ đạo và thực hiện - Mục tiêu: Chính sách phải bảo đảm thể hiện mục tiêu nhất định để thực hiện. - Quan điểm: Chính sách phải xác định rõ quan điểm là để giải quyết vấn đề gì, nhằm mục đích và giải quyết như thế nào.
- Giải pháp: Chính sách phải thể hiện rõ giải pháp tổ chức thực hiện, có tính năng động, tính khả thi, chuẩn mực và có hiệu lực. - Công cụ: Chính sách phải trở thành công cụ đắc lực của nhà nước trong việc thi hành, có hiệu quả cao. Luan van 10 - Vai trò của chính sách Chính sách quyết định định hướng hoạt động dài hạn và là cơ sở vững chắc cho triển khai hoạt động trong tác nghiệp tầm cỡ một quốc gia. Thiếu vắng chính sách hoặc chính sách không được thiết lập rõ ràng, không có luận cứ sẽ làm cho hoạt động mất hướng, chỉ thấy trước mắt không gắn được với dài hạn, chỉ thấy cục bộ mà không thấy vai trò của cục bộ trong cái toàn bộ.
Chính sách tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu - triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trong thực tế, phần lớn các sai lầm, trả giá về đầu tư, về nghiên cứu - triển khai.có nguồn gốc từ chỗ thiếu vắng hoặc có sự sai lệch trong xác định các mục tiêu chính sách.4 Quá trình thực hiện chính sách - Hoạch định chính sách - Thể chế hoá chính sách - Tổ chức các hình thức cơ cấu thực hiện - Chỉ đạo thực hiện - Kiểm tra, điều chỉnh Sơ đồ 1.2 : Quá trình thực hiện chính sách HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH THỂ CHẾ HÓA CHÍNH SÁCH TỔ CHỨC CÁC HÌNH THƯC CƠ CẤU THỰC HIỆN CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN KIỂM TRA, Luan ĐIỀU CHỈNH van 11 Các bước thực hiện chính sách theo mục tiêu đã định trước trong kế hoạch đề ra. Tiến độ thực hiện nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhân lực, điều kiện kinh tế, văn hóa, tự nhiên. Có những chính sách ta có thể triển khai trong vài tháng, tuy nhiên có những chính sách phải mất vài năm hay vài chục năm mới triển khai xong.
Quy mô của chính sách cũng quyết định tới tiến độ thực hiện. Chính sách tầm vĩ mô thì mất nhiều thời gian hơn so với vi mô. Phạm vi ảnh hưởng của chính sách cũng tùy thuộc vào mức độ lớn nhỏ của chính sách. Chính sách vĩ mô thì phạm vi ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều so với chính sách vi mô.
Các bước thực hiện chính sách thì không phải chính sách nào cũng giống nhau. Có chính sách thì thực hiện bước này trước cũng có chính sách lại thực hiện bước này sau. Nói tóm lại là các bước thực hiện chính sách hay tiến độ thực hiện tùy thuộc vào từng chính sách cụ thể.2 Một số khái niệm cơ bản về xuất khẩu 1.1 Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu là việc cung cấp hàng hoá hoặc dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Khi sản xuất phát triển và trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia có lợi, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài bên giới của các quốc gia hoặc thị trường nội địa và khu chế xuất ở trong nước.
Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, xuất hiện từ lâu đời, ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức cơ bản ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia, cho đến nay nó đã rất phát triển và được thể hiện thông qua nhiều Luan van 12 hình thức. Hoạt động xuất khẩu ngày càng diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.2 Đặc điểm và vai trò của xuất khẩu 1.