Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2006-2010 chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt với 28 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và hơn 40 định chế tài chính hoạt động trong ngành. Trong bối cảnh đó, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Toàn Cầu (GIC) chính thức thành lập vào tháng 6 năm 2006 với số vốn điều lệ ban đầu 300 tỷ đồng, được hậu thuẫn bởi các cổ đông chiến lược lớn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và Tổng công ty Cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia (VINARE). Dù đã nhanh chóng thiết lập mạng lưới gồm 13 chi nhánh, hơn 40 phòng kinh doanh và xây dựng danh mục gần 100 sản phẩm thuộc 20 nhóm nghiệp vụ, GIC vẫn đối mặt với áp lực sụt giảm thứ hạng thị phần từ vị trí thứ 6 năm 2007 xuống vị trí thứ 12 trong 6 tháng đầu năm 2010.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là chính sách sản phẩm của GIC còn mang tính truyền thống, thiếu sự khác biệt hóa, danh mục sản phẩm phát triển dàn trải và chưa tối ưu hóa hiệu quả quản trị. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách sản phẩm trong kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, khảo sát và đánh giá toàn diện thực trạng triển khai chính sách sản phẩm tại GIC giai đoạn 2006-2010, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách sản phẩm trong giai đoạn tiếp theo. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, cung cấp giải pháp giúp GIC tái cơ cấu danh mục sản phẩm, nâng thị phần bảo hiểm tài sản - kỹ thuật vượt mức 1,4%, thị phần bảo hiểm xe cơ giới vượt mức 2,0% và bảo đảm tỷ suất lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm gốc ổn định trên mức 2% hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Marketing hỗn hợp (Marketing-Mix 4P) của Philip Kotler, xác định chính sách sản phẩm là biến số cốt lõi và nền tảng chi phối toàn bộ các biến số về giá cả, phân phối và xúc tiến hỗn hợp. Điểm đặc thù của sản phẩm bảo hiểm là tính vô hình, chu trình kinh doanh ngược (thu phí trước, bồi thường sau nếu có tổn thất) và không hao phí vật chất trong quá trình lưu thông.

Nghiên cứu tích hợp lý thuyết quản trị danh mục sản phẩm theo chiều rộng (đa dạng hóa đồng tâm, đa dạng hóa kết hợp) và chiều sâu (chuyên môn hóa), kết hợp mô hình chu kỳ sống của sản phẩm bảo hiểm để định hình chiến lược thích ứng. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết quản trị thương hiệu thông qua 3 chiến lược định vị: thương hiệu dẫn dắt sản phẩm, thương hiệu phụ thuộc sản phẩm và chiến lược hỗn hợp (Hybrid). Quy trình phát triển sản phẩm mới được chuẩn hóa qua 6 giai đoạn: tìm kiếm ý tưởng, sàng lọc ý tưởng, phát triển sản phẩm kỹ thuật, thử nghiệm marketing, phân tích kinh doanh và thương mại hóa. Các khái niệm trọng tâm bao gồm tỷ lệ bồi thường kỹ thuật, trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ và chia sẻ rủi ro qua tái bảo hiểm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp phương pháp hệ thống hóa, mô hình hóa và phân tích định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán, báo cáo nghiệp vụ nội bộ của GIC giai đoạn 2006-2010 và kỷ yếu số liệu thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu sơ cấp được thực hiện thông qua bảng câu hỏi khảo sát với cỡ mẫu 150 đối tượng, bao gồm cán bộ quản lý nghiệp vụ, khai thác viên và đại lý bảo hiểm thuộc 13 chi nhánh của GIC trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện theo từng khu vực địa lý và từng nhóm sản phẩm chuyên trách. Lý do lựa chọn kết hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp là nhằm đối chiếu khách quan giữa hiệu quả tài chính định lượng với nhận định thực tế của mạng lưới bán hàng, từ đó nhận diện chính xác các điểm nghẽn trong quản lý danh mục và dịch vụ bồi thường của công ty.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu doanh thu của GIC có sự tăng trưởng nhanh về quy mô nhưng mất cân đối giữa các nhóm nghiệp vụ. Nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tăng trưởng từ 1.118 triệu đồng năm 2006 (chiếm 32,2% tổng doanh thu) lên 76.790 triệu đồng năm 2009 (chiếm 29,1%) và đạt 44.866 triệu đồng trong 6 tháng đầu năm 2010 (chiếm 27,5%). Tuy nhiên, thị phần bảo hiểm xe cơ giới của GIC chỉ dao động ở mức 1,5% đến 2,0%, khoảng cách còn rất xa so với Bảo Việt (chiếm 26% đến 38%) và Bảo Minh (chiếm 12% đến 23%).

Thứ hai, nghiệp vụ bảo hiểm tài sản - kỹ thuật đóng vai trò trụ cột doanh thu nhờ lợi thế cổ đông chiến lược EVN. Doanh thu tài sản - kỹ thuật đạt 1.874 triệu đồng năm 2006 (chiếm 54,0% tổng doanh thu), tăng lên 72.896 triệu đồng năm 2009 (chiếm 28,0%) và đạt 55.387 triệu đồng trong 6 tháng đầu năm 2010 (chiếm 34,0%). Thị phần nghiệp vụ này của GIC tăng từ 0,04% năm 2006 lên 1,4% trong 6 tháng đầu năm 2010, nhờ bảo hiểm các công trình trọng điểm như Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng và Nhiệt điện Quảng Ninh.

Thứ ba, hoạt động đầu tư tài chính đóng vai trò trợ lực cốt lõi cho kết quả kinh doanh bảo hiểm gốc. Doanh thu đầu tư tài chính tăng mạnh từ 296 triệu đồng năm 2006 lên 35.000 triệu đồng năm 2008, trước khi giảm 18,6% xuống mức 29.000 triệu đồng năm 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhờ hiệu quả từ đầu tư tài chính, GIC đạt tỷ suất lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm gốc 2% năm 2009, tránh được tình trạng lỗ kỹ thuật phổ biến trong 3 năm đầu hoạt động của các công ty bảo hiểm mới.

Thứ tư, danh mục sản phẩm còn dàn trải và thiếu tính đột phá. Dù cung cấp gần 100 sản phẩm, phần lớn là sao chép quy tắc chuẩn của thị trường; thời gian giải quyết bồi thường xe cơ giới từ 1 đến 15 ngày và bảo hiểm con người từ 1 đến 5 ngày chưa tạo được ưu thế cạnh tranh vượt trội. Các dữ liệu này được trực quan hóa qua biểu đồ cột chồng cơ cấu doanh thu theo nghiệp vụ và bảng so sánh thị phần 5 doanh nghiệp bảo hiểm hàng đầu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ sự phụ thuộc tương đối lớn vào các hợp đồng bảo hiểm nội bộ của EVN, khiến GIC chưa đầu tư thỏa đáng cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm bán lẻ hướng tới thị trường mở. Khi thâm nhập thị trường tự do, công ty vấp phải sự cạnh tranh phi kỹ thuật gay gắt thông qua hạ phí bảo hiểm và tăng chiết khấu hoa hồng từ các đối thủ lâu năm. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu chuyên khảo về quản trị bảo hiểm tại các nền kinh tế đang phát triển, nơi các doanh nghiệp mới thành lập thường rơi vào bẫy đa dạng hóa danh mục theo chiều rộng mà thiếu đi các sản phẩm mũi nhọn có chiều sâu. Ý nghĩa rút ra là GIC cần cấp thiết chuyển dịch chiến lược từ mở rộng dàn trải sang tối ưu hóa danh mục sản phẩm hiện hữu và chuẩn hóa chất lượng bồi thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục sản phẩm theo ma trận doanh thu - chi phí. Ban Nghiệp vụ GIC cần tiến hành rà soát, loại bỏ hoặc đóng gói lại 15% đến 20% các sản phẩm kém hiệu quả thuộc nhóm có doanh thu thấp nhưng chi phí khai thác cao, tập trung nguồn lực tài chính cho 2 nhóm chủ lực là bảo hiểm xe cơ giới cao cấp và bảo hiểm tài sản - kỹ thuật. Thời gian hoàn thành trong Quý IV năm 2011.

Thứ hai, chuẩn hóa quy trình phát triển sản phẩm mới và rút ngắn thời gian cung cấp dịch vụ. Ban Kế hoạch phối hợp với Ban Nghiệp vụ áp dụng nghiêm ngặt quy trình 6 bước, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm rút ngắn thời gian cấp đơn bảo hiểm xuống dưới 24 giờ và cam kết thời gian giải quyết bồi thường xe cơ giới dưới 10 ngày. Mục tiêu đưa ra thị trường từ 2 đến 3 sản phẩm đóng gói chuyên biệt cho hộ gia đình và cá nhân trong giai đoạn 2011-2012.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị thương hiệu theo mô hình Hybrid. Phòng Marketing triển khai chiến dịch truyền thông gắn liền thương hiệu GIC với cam kết bồi thường minh bạch; tổ chức đào tạo chuẩn hóa cho 100% cán bộ khai thác và giám định viên tại 13 chi nhánh. Mục tiêu nâng tỷ lệ khách hàng tái tục hợp đồng bảo hiểm lên trên mức 75% trong giai đoạn 2011-2013.

Thứ tư, mở rộng kênh phân phối liên kết (Bancassurance và đối tác chiến lược). Tận dụng tối đa mạng lưới của các cổ đông như Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á (EAB), SUDICO, SFC để triển khai bán chéo sản phẩm bảo hiểm tự động, đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu qua kênh liên kết đạt 25% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015.

Khuyến nghị vĩ mô: Đề xuất Bộ Tài chính và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tăng cường công tác thanh tra mức phí sàn bảo hiểm bắt buộc, ngăn ngừa hiện tượng cạnh tranh hạ phí không lành mạnh và hoàn thiện cơ chế phòng chống trục lợi bảo hiểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm Ban Tổng Giám đốc và cán bộ hoạch định chiến lược tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có quy mô vốn từ 300 tỷ đến 500 tỷ đồng. Luận văn cung cấp phương pháp thực chứng trong việc phân tích ma trận danh mục sản phẩm và mô hình cân đối giữa rủi ro bảo hiểm gốc với doanh thu đầu tư tài chính.

Nhóm thứ hai là các chuyên viên nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), chuyên viên marketing ngành tài chính - bảo hiểm. Nhóm đối tượng này có thể ứng dụng quy trình 6 bước phát triển sản phẩm mới và các kỹ thuật định vị thương hiệu sản phẩm vô hình vào hoạt động thực tế.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Bảo hiểm, Tài chính - Ngân hàng. Công trình là tài liệu học thuật giá trị, cung cấp bộ số liệu thực tế giai đoạn 2006-2010 về thị phần, doanh thu và các biến số kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các nhà đầu tư tổ chức, cổ đông chiến lược thuộc các tập đoàn kinh tế và ngân hàng thương mại. Luận văn gợi mở cách thức xây dựng hệ sinh thái liên kết, tối ưu hóa kênh phân phối bán chéo sản phẩm bảo hiểm giữa công ty bảo hiểm và mạng lưới công ty mẹ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ phải vận hành đồng thời kinh doanh bảo hiểm gốc và đầu tư tài chính? Doanh nghiệp bảo hiểm đứng trên hai trụ cột: kinh doanh bảo hiểm gốc đảm bảo thu phí để bồi thường tổn thất theo nguyên tắc số đông bù số ít, trong khi đầu tư tài chính khai thác nguồn vốn nhàn rỗi từ quỹ dự phòng để tạo ra lợi nhuận cốt lõi. Minh chứng tại GIC, doanh thu đầu tư tài chính đạt 35.000 triệu đồng năm 2008 đã giúp công ty có lãi 2% năm 2009.

Đâu là hạn chế lớn nhất trong chính sách sản phẩm của GIC giai đoạn 2006-2010? Hạn chế lớn nhất là tính dàn trải và thiếu bản sắc riêng của danh mục sản phẩm. Mặc dù công ty cung cấp gần 100 sản phẩm, thị phần bảo hiểm xe cơ giới chỉ đạt khoảng 1,5% và tài sản - kỹ thuật đạt 1,4%, chủ yếu do sản phẩm mang tính truyền thống, chưa có sự khác biệt hóa rõ rệt so với các đối thủ lâu năm.

Vai trò của cổ đông chiến lược EVN đối với cơ cấu sản phẩm của GIC thể hiện như thế nào? EVN đóng vai trò là khách hàng nội bộ quan trọng, giúp doanh thu bảo hiểm tài sản - kỹ thuật của GIC luôn chiếm tỷ trọng cao từ 21,2% đến 54,0% tổng doanh thu trong giai đoạn 2006-2010 thông qua việc bảo hiểm các công trình nguồn điện lớn như Nhiệt điện Hải Phòng và Nhiệt điện Quảng Ninh.

Chính sách đa dạng hóa sản phẩm mang lại rủi ro gì cho doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập? Chính sách đa dạng hóa làm gia tăng tính phức tạp trong công tác quản lý bồi thường, phân tán chi phí marketing và tạo áp lực lên nguồn nhân lực. Với quy mô khoảng 300 nhân sự của GIC, việc quản lý cùng lúc 20 nhóm sản phẩm dẫn đến việc một số sản phẩm chính không được chuyên sâu hóa.

Quy trình phát triển sản phẩm bảo hiểm mới có điểm gì khác biệt so với sản phẩm vật chất? Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không đòi hỏi đầu tư dây chuyền sản xuất hay kho bãi lưu trữ. Quá trình phát triển tập trung vào tính toán xác suất rủi ro, thiết kế điều khoản quy tắc pháp lý, trích lập dự phòng kỹ thuật và thử nghiệm marketing trực tiếp trên hệ thống đại lý bán hàng.

Kết luận

  • Chính sách sản phẩm giữ vai trò là xương sống trong toàn bộ chiến lược Marketing-Mix và quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.
  • GIC đã xây dựng nền tảng ban đầu với vốn điều lệ 300 tỷ đồng, hệ thống 13 chi nhánh và danh mục gần 100 sản phẩm nhưng đang bộc lộ dấu hiệu suy giảm thứ hạng cạnh tranh.
  • Sự phụ thuộc vào nguồn khách hàng nội bộ của cổ đông lớn EVN đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu danh mục, đẩy mạnh dòng sản phẩm bán lẻ xe cơ giới và con người.
  • Bốn nhóm giải pháp trọng tâm gồm: tái cơ cấu danh mục theo ma trận chi phí, chuẩn hóa quy trình phát triển sản phẩm 6 bước, nâng tầm thương hiệu Hybrid và tối ưu hóa kênh Bancassurance.
  • Các giải pháp đề xuất tạo lộ trình thực thi rõ ràng từ năm 2011 đến năm 2015 nhằm đưa GIC trở lại vị trí nhóm các công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu Việt Nam.

Đóng góp chính của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận về chính sách sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ và cung cấp giải pháp tái cấu trúc danh mục sát với thực tiễn hoạt động của GIC. Lộ trình triển khai khuyến nghị tập trung thực hiện rà soát sản phẩm trong năm 2011 và mở rộng kênh liên kết đến năm 2015. Các nhà quản trị doanh nghiệp và giới nghiên cứu có thể tiếp tục tham khảo, đào sâu ứng dụng các mô hình đánh giá danh mục sản phẩm vào thực tế chuyển đổi số ngành bảo hiểm hiện nay.